Jean Piaget

Jean Piaget sinh năm 1896 tại Thuỵ Sĩ, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã đóng góp hơn 60 cuốn sách và hàng trăm bài báo vào kho thành tựu. Mặc dù Piaget thường được nhắc đến với tư cách là nhà tâm lý học, nhưng thực tế ông là một nhà nhận thức luận – nghiên cứu về bản chất và khởi nguồn của sự nghiệp. Trong khi những người khác băn khoăn rằng trẻ biết điều gì (what) và khi nào (when) thì Piaget hỏi làm thế nào (how) trẻ đạt được những gì chúng biết. Những nghiên cứu của ông tập trung nhiều vào qúa trình tư duy.

Những người cùng thời với Piaget cho rằng quá trình học hoặc là mang tính nội tại (Đến từ đứa trẻ) hoặc mang tính ngoại tại (tạo nên bởi môi trường hoặc được ngừoi lớn dạy) thì Piaget nghĩ rằng không riêng một mệnh đề nào có thể giải thích được quá trình học. Thay vì thế ông cho rằng tương tác của trẻ với môi trường chính là những yếu tố tạo nên quá trình học. Ông cho rằng trẻ kiến tạo sự hiểu biết của mình bằng cách gán định nghĩa cho những con người, nơi chống và những sự vật trong thế giới của chúng.

Trẻ học tốt nhất khi tự mình làm việc một cách thực sự và kiến tạo nên sự hiểu biết của riêng mình về những gì đang diễn ra thay vì nhận lấy những cách diễn giải mà người lớn đưa ra.

Piaget tin rằng trẻ cần mọi cơ hội có thể để được tự mình làm mọi việc. Ví dụ trẻ có thể rất quan tâm tới việc vật đã phát triển như thế nào. Nếu giáo viên đọc cho trẻ nghe một cuốn sách minh hoạ về chủ đề đó, trẻ có thể tăng được kiến thức nền tảng. Nhưng nếu trẻ có cơ hội được trông một vườn cây thực sự tại trường thì quá trình đào xới tưới tắm, quan sát và trải nghiệm sự lớn lên của cây cối sẽ giúp trẻ kiến tạo nên sự hiểu biết về quá trình phát triển của sự vataj, những thứ mà các em không thể có được nếu cỉ dọc và nhìn vào những bức tranh minh hoạ.

Piaget cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của trò chơi như là con đường chính để học tập. Khi trẻ tham dự vào một trò chơi biểu trừng (làm bánh từ cát, sử dụng vòi nước tưới cây để làm lính chữa cháy), chúng sẽ gán ý nghĩa cho những đồ vật và cho các hoạt động xung quanh chúng. Khi chúng mô phỏng theo những gì diễn ra xung quanh, chúng bắt đầu hiểu mọi thứ vận hành như thế nào và để làm gì. Mới bắt đầu đây là quá trình thử và sai. Tuy nhiên theo thời gian và sự lặp lại, trẻ sẽ sử dụng thông tin mới để tăng cường sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh.

Theo Piaget, sự phát triển nhận thức của trẻ trải qua những 4 giai đoạn sau

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

1. Giai đoạn cảm giác vận động (Sensorimotor) của Piaget: từ khi sinh cho đến 2 tuổi

Piaget cho rằng ban đầu phản ứng của trẻ đối với thế giới chỉ thuần tuý mang tính phản xạ (không có tư duy), trí tuệ bắt đầu khi các phản ứng trở nên có mục đích hơn. Trong suốt thời gian này, trẻ dựa vào các giác quan và hoạt động thể chất để học hỏi về thế giới như nhìn, nghe, xúc giác, vị giác, cầm nắm. Đến cuối giai đoạn này thì sự ổn định cảu đối tượng (Object pernamnence) sẽ dần xuất hiện. Sự ổn định có nghĩa là trẻ dần nhận thực được rằng ngay cả khi trẻ không thể nhìn thấy cái gì đó thì nó vẫn tồn tại. Đây là cột mốc quan trọng, trước khi đạt được cột mốc này trẻ chỉ quan tâm tới những gì trong tầm quan sát của chúng.

Ví dụ quan sát ta sẽ thấy tầm 8 hoặc 9 tháng tuổi, trẻ có thể làm rơi đồ vật từ trên xuống nhưng không

Jean Piaget

Jean Piaget

hề bối rồi, với trẻ thì sự vật rời khỏi tầm nhìn của chúng thì chúng không quan tâm đến nữa. Từ góc nhìn của trẻ thì đồ vật không còn tồn tại. Rồi bỗng nhiên, đến tháng thứ 8 – 10 khi vật rơi xuống trẻ sẽ cúi nhìn về phía đó và nhặng xị lên đòi lại nó. Thường các bậc cha mẹ nhặt vật lên sẽ cảm tháy ngạc nhiên và lạ lùng khi bé mỉm cười rồi lại ném đồ vật xuống chỗ cũ. Đây không phải là sự khởi đầu nỗ lực làm người lớn phát điên mà là khoảnh khắc bùng nổ đầu tiên của niềm vui sướng khi học hỏi. Đây là sự khởi đầu của ổn định đối tượng. Đây cũng là giai đoạn trẻ thể hiện sự lo âu khi bị tách rời.

Để hỗ trợ sự phát triển của trẻ dứoi 2 tuổi, lý thuyết Piaget khuyên rằng chúng ta vẫn giữ cho trẻ an toàn nhưng vẫn có được sự tò mò hứng thú và nên đáp ứng lại ngay để trấn an khi trẻ có lo âu bị xa cách. Trẻ cần có các đồ vật để kéo và đẩy, thao tác. Chúng cần bò trường, leo trèo và được ngừoi lớn đỡ cho đứng lên mà không gặp nguy hiểm. Một môi trường dành cho trẻ cần đa dạng, dành nhiều cơ hội leo trèo sẽ đem lại cho trẻ không gian cần để thử nghiệm mối liên hệ về không gian và học qua thân thể mình. Đồ chơi cần đa dạng, gây hiệu ứng (như tạo tiếng động). Trẻ cũng cần trải nghiệm với đồ chơi mềm mại như đất nặn không có độc, tinh bột ngô và nước, cát… Gương và những đồ trang sức cần để ở nơi trẻ dễ lấy có thể khiến trẻ hứng thú hơn.

Sự phát triển nhận thức cũng được kích thích khi người lớn thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, thủ thỉ nói cho các em biết điều gì đang diễn ra và khen ngợi khi các em hoàn thành nhiệm vụ nào đó.

Khi trẻ nhỏ bắt đầu có kinh nghiệm về sự ổn định của đối tượng, xuất hiện cảm giác lo âu bị phân tách thì điều quan trọng là cần hạn chế sự thay đổi trong môi trường của trẻ ở mức tối đa.

2. Giai đoạn tiền thao tác (Preoperational stage)

Theo Piaget, sau giai đoạn cảm giác vận động thì sự nhận thức của trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, bắt đầu từ năm thứ 2 cho đến 7 hoặc 8 tuổi. Giai đoạn này thì tư duy của trẻ khác biệt so với tư duy của cha mẹ nhất. Piaget cho rằng giai đoạn này trẻ có tính duy kỷ (nghĩ về mọi thứ như thế những thứ ấy đều gắn liền với chúng), trẻ chỉ tập trung vào một đặc tính sự vật hoặc chú ý vào một người trong một thời điểm nhất định. Ví dụ quen thuộc như khi trẻ muốn mua đồ chơi nhồi bông làm quà cho ông bà cha mẹ vì trẻ nghĩ trẻ thích nó nên ông bà cha mẹ cũng thích.

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Trong giai đoạn này, trẻ hình thành khái niệm từ những kinh nghiệm trực tiếp của mình trong cuộc sống. Đây chính là lý do tại sao khi nói với trẻ điều gì đó sẽ ít hiệu quả hơn là làm thể nào giúp trẻ nghĩ theo cách riêng của chúng qua một vấn đề. Vì trẻ ở giai đoạn này có xu hướng tin vào những gì chúng thấy nên chúng chưa có sự hiểu biết chắc chắn về những phẩm chất của những đối tượng trong thế giới. Ví dụ chúng bị lẫn lộn giữa “nặng” và “lớn”, chưa phân biệt chiều cao với tuổi như nghĩ ai cao sẽ nhiều tuổi. Piaget đã thực hiện một thí nghiệm kinh điển với bài tập Bảo toàn để minh hoạ kiểu tư duy này.Ông để hai dãy đồng xu trên mặt bàn, cả hai dãy có cùng số lươngj xu những khoảng cách giữa các đồng xu khác nhau, trẻ ở độ tuổi này có xu hướng sẽ cho rằng dãy có đồng xu cách xa nhau hơn là nhiều hơn. Vì trẻ ở giai đoạn này phụ thuộc vào kinh nghiệm của riêng mình nên trẻ thường có xu hướng khái quát hoá sai lầm, đặt niềm tin vào một kinh nghiệm đơn thuần nào đó.

Để hỗ trợ giai đoạn này của trẻ, chúng ta có thể:

  • Sắp xếp những gói thời gian dài để trẻ vui chơi tự do không bị ngắt quãng
  • Tạo cơ hội cho trẻ có nhiều trải nghiệm về thế giới thực tại trong cả năm
  • Xây dựng các hoạt động mang tính mở và đặt những câu hỏi mở
3-4. Giai đoạn thao tác cụ thể (Concrete operation) và thao tác hình thức (formal operation)

Hai giai đoạn này nói về lứa tuổi học đường và vị thành niên. Khi trẻ bước sang giai đoạn thao tác cụ thể thì trẻ bộc lộ nhiều thay đổi trong cách tư duy như tư duy đảo ngược, cho phép trẻ đảo ngược hướng tư duy của mình. Ví dụ, trẻ có thể lần ngược lại các bước trên sân trường để tìm hộp cơm để quên. Trẻ không còn đếm ngón tay nữa vì trẻ bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng. Khi lên 4 tuổi thì mọi con chó đều được gọi là chó, nhưng khi lên 8-9 tuổi thì trẻ biết phân biệt giữa các loại chó.

Giai đoạn cuối cùng là Piaget chỉ ra là giai đoạn hình thức, giai đoạn này bắt đầu từ lúc 11-12 tuổi được đánh dấu bằng năng lực tư duy logic bằng những thuật ngữ mang tính giả đinh. Trẻ sẽ trăn trở những câu hỏi như “Liệu có sai không khi ăn trộm thức ăn cho những con chó đang đói của bạn? , hoặc liệu một cái cây đổ mà không ai ở đó nghe nó đổ, liệu nó có tạo ra tiếng động không..?”

psychology-for-social-workers-human-service-professionals-nurses-37-638

Prof.-Shichida

Trích lược về Giáo dục trẻ theo phương pháp Shichida

trong cuốn “Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ dưới 7 tuổi theo phương pháp Shichida

Makoto Shichida sinh năm 1929 tại tỉnh Shimane, Nhật Bản, ông là tiến sỹ giáo dục, hiệu trưởng Viện giáo dục trẻ em Shichida. Năm 1997, ông được trao giải thưởng Dịch vụ Văn hoá-xã hội của Hiệp hội phát triển Văn hoá Nhật Bản dànha cho cá nhân có nhiều thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực gồm Nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và phúc lợi xã hội. Ngoài ra Hội đồng Khoa học thế giới đã đánh giá phương pháp giáo dục Não phải của M. Shichida là học thuyết giáo dục tốt nhất và được nhận Huân chương Hiệp sỹ của tổ chức hoà bình thế giới vì sự cống hiến xuất sắc.

Hiện ở khắp nước Nhật có 400 lớp nuôi dạy theo Phương pháp Shichida, ngoài ra lớp còn mở rộng ra toàn thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..

1.Bộ não trẻ hoạt động ưu việt nhất ở giai đoạn sơ sinh

Cùng quan điểm với nhà giáo dục trẻ em vĩ đại người Ý, bà Maria Montessori, Makoto Shichida cho rằng bộ não của trẻ em hoạt động tốt nhất ở giai đoạn trẻ sơ sinh với năng lực hấp thụ vô cùng kỳ diệu. “Năng lực hấp thụ (khả năng tế bào thần kinh hấp thụ) này mất đi ở người lớn nhưng lại là một năng lực kỳ diệu có thể sánh ngang năng lực sáng tạo của thần linh. Song do trẻ tiếp nhận các tác động, kích thích của môi trường sống từ khi sinh ra và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xung quanh nên khả năng hấp thụ này sẽ nhanh chóng biến mất”. Năng lực này hoạt động mạnh mẽ nhất ở giai đoạn từ 0 – 2 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau giai đoạn đó, dù làm cách nào cũng không thể có lại năng lực này.

shichida-records

Shichida method -records

Tuy nhiên ở giai đoạn khả năng hấp thụ của não trẻ hoạt động tuyệt với đến mức thiên tài mà không được cha mẹ biết đến, vì không nhận được kích thích tác động có tính giáo dục từ cha mẹ, bộ não trẻ em sẽ không thể phát huy tối ưu và năng lực này biến mất, khiến bộ não bị thoái hoá nhanh chóng, sau này dù trẻ cỏ nhận được những tác động có tính giáo dục ưu tú đến đâu, năng lực đó sẽ không khơi dậy lại được.

Sau 6 tháng chào đời, những cấu trúc cơ bản của não trẻ sẽ thành hình. Theo nghiên cứu của Noam Chómky về những đặc tính bẩm sinh của trẻ, có thể não trẻ có những cấu trúc chức năng tiếp thu ngôn ngữ nhanh chóng, vậy nên hãy sử dụng nhiều ngôn từ đa dạng để dạy trẻ từ lúc chào đời. Ở giai đoạn này trẻ không nắm bắt và ghi nhớ ý nghĩa mà chỉ đơn giản là đưa sau vào tiềm thức vì thế cha mẹ đừng bỏ qua giai đoạn 6 tháng ngắn ngủi chỉ để bé yên lặng ngủ, hoặc nhàm chán ngoan ngoãn mà không có những tác động phù hơp.

Shichida cho rằng cần phát triển các tác động, kích thích trí tuệ tích cực bởi trẻ giai đoạn 0-1 tuổi có thể lĩnh hội những tố chất thiên tài khi được đặt trong một môi trường giáo dục bậc cao vì sau sinh bé có năng lực hấp thu bí ẩn. Tuy nhiên nếu không gặp được môi trường thích hợp thì năng lực này sẽ nhanh chóng mất đi.

2. Hai mô hình học tập của trẻ

Trẻ nhỏ học tập hoàn toàn khác người lớn, Shichida đưa ra cấu trúc hai tầng của việc học tập của trẻ gồm kiểu học nhớ y nguyên và kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu học nhớ y nguyên

Trẻ sẽ không cảm nhận được màu sắc bằng cách phân biệt trừu tượng màu xanh, màu đỏ mà sẽ cảm nhận tổng hoà các màu sắc phức tạp giống như ta cảm nhận gương mặt người khác. Mô hình tri giác thế giới bên ngoài của trẻ nhỏ, đặc biệt là từ 0-1 tuổi không phải phát triển từ đơn giản đến phức tạp mà là sự tri giác những kích thích nhận một cách nguyên vẹn, không liên quan đến độ phức tạp hay đơn giản, vì thế kích thích tri giác cho trẻ ở giai đoạn này nên là những kích thích phức tạp. Các kích thích này không được quá mức nhưng phải được lặp đi lặp lại.

Kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu nhớ này thể hiện trong việc học từ vựng, cha mẹ cần thường xuyên nói chuyện với trẻ về các vấn đề phức tạp và lặp đi lặp lại các từ vựng gần gũi với trẻ. Những quan sát thực nghiệm cho thấy nếu cho trẻ học nghe, nuôi dưỡng ngôn ngữ một cách phong phú đa dạng thì trẻ sẽ nói rất nhanh, nội dung câu nói trở nên mạch lạc rõ ràng,

Để trẻ nhớ được một từ, trẻ có thể sẽ phải lặp đi lặp lại từ đó hàng ngàn lần, tuy nhiên ở từ tiếp theo thì chỉ cần một phần nhỏ nỗ lực đó, và phản ứng với kích thích tiếp theo sẽ rất nhanh chóng, nhờ đó thần kinh phản ứng sẽ phát triển mạnh mẽ. Mạch thần kinh các phát triển thì càng trở nên tối ưu.

3. Quá trình phát triển năng lực của trẻ

phương pháp Shichida

Phương pháp Shichida

Thời kỳ thứ 1 (từ 0-6 tháng): thời kỳ phát triển năng lực tiếp thụ (cảm giác)

Thính giác phát triển trước nhất, tai trẻ mẫn cảm và phản ứng với các tác động từ môi trường xung quanh. Thị giác: trẻ có thể tập trung cả 2 mắt vào một điểm tuy nhiên sự vận hành chưa đầy đủ, đến 3-4 tháng cơ xoay của nhãn cầu phát triển đầy đủ thì thị giác mới bắt đầu nhạy cảm nhất. Đây là giai đoạn cha mẹ cần cho xem các bức tranh đẹp. Xúc giác: tháng thứ 5 mới lan rộng khắp khi phát triển khả năng chỉ trỏ. Khứu giác và vị giác: từ tháng thứ 5 mới bắt đầu mẫn cảm.

Nhìn chúng, giai đoạn này nên cho trẻ nghe hát ru thì thính giác sẽ khắc ghi sâu hơn, mạch thần kinh cũng trở nên phức tạp. Giai đoạn này trẻ thường suy dinh dưỡng học tập. Cha mẹ nên:

  • hát ru, đọc các bài thơ ca có nhịp điệu
  • cho bé ngắm các bức danh hoạ, tranh đẹp
  • nghe nhạc hay
  • xem truyện tranh

Thời kỳ thứ 2: (6 tháng đến 3 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực biểu đạt (năng lực sáng tạo)

Đây là giai đoạn nuôi dưỡng các năng lực thực sự của trẻ, cha mẹ cần tạo một môi trường vui chơi học tập phong phú như đồ chơi (chơi con thú thì mẹ kết hợp cho trẻ xem tranh con thú để nắm bắt các điểm tương đồng), học vẽ, đi chơi công viên thường xuyên, đọc truyện tranh…

Thời kỳ thứ 3 (từ 3-6 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực tư duy (kỹ thuật)

Trẻ phát triển mạnh về năng lực tư duy, thời kỳ này cha mẹ cần tập trung nuôi dưỡng tư duy để tránh bị đình trệ. Các năng lực này diễn ra ở khu vực não từ tai đến phía trước thuỳ trán. Các kích thích đến từ bên ngoài sẽ được tiếp nhận tại thuỳ chẩm thông qua các giác quan như tai, mắt mũi và sau đó thuỳ trán sẽ chuyển hoá các yếu tố này thành hành vi, biểu đạt chúng thông qua hệ thống cơ. Ở giai đoạn 0-3 tuổi, thuỳ chẩm phát triển nhưng đến giai đoạn này thuỳ trán ai phát triển cho nến cha mẹ đẩy mạnh việc giáo dục về trí nhớ thì không phát triển được trí năng của trẻ.

Đây là giai đoạn cha mẹ nên cho  trẻ chơi lặp đi lặp lại nhiều lần:

  • chơi các trò chơi ghép hình, thả hình khối, xếp khối. (ghép hình từ 4 miếng – 10 – 20 – 40 -60 tăng dần độ khó)
  • cắt giấy, xếp giấy
  • tập đàn piano hoặc violin.

Khi trẻ mới chào đời, chỉ khi nhận được các kích thích từ môi trường xung quanh thì tế bào não của trẻ mới kết nối và vận hành được. Khi đó việc lặp đi lặp lại là rất quan trọng bởi nó tạo ra sự kết nối giữa các tế bào, hình thành các mạch thần kinh giúp cho sự kích thích được thông suốt. Nếu sự kích thích yếu ớt (môi trường giáo dục nghèo nàn) thì tế bào não sẽ phát triển kém, cho đến 6 tuổi thì mạch thần kinh đã hình thành thì không điều chỉnh được nữa. Sau 6 tuổi, dù trẻ học có tốt đi thế nào nữa cũng không tổ chức lại được cấu trúc của nó và không còn chỗ để phát triển các mạch thần kinh giúp truyền các tác động, kích thích một cách tốt đẹp.

Như vậy, để hình thành các mạch thần kinh có chất lượng nhờ giáo dục ở giai đoạn 0 tuổi và đẩy nhanh sự phát triển năng lực thì không thế không chuẩn bị những kích thích, tác động phù hợp.

Montessori method

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :, phần 2, phần 3, phần 4

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4. Giai đoạn mẫn cảm

#5: Sự khác biệt giữa các cá thể

#6. Lớp học được chuẩn bị theo phương pháp Montessori

#7: Sự tự do lựa chọn

#8. Tự do và kỷ luật

#9 Quá trình đạt đến sự tập trung và độc lập của đứa trẻ (Normalization)

Định nghĩa chính xác của Montessori về quá trình “Normalization” đó chính là trạng thái tinh thần bình thản và tập trung thông qua toàn tâm với một hoạt động của đứa trẻ. Maria Montessori phát hiện rằng có một xu hướng nội tại về khả năng tập trung cao độ và khả năng thể hiện các hành vi một cách yên tĩnh thực sự là một điều “bình thường” (normal) trong mỗi đứa trẻ. .

Có thể bạn cho rằng: đó không giống con của tôi. Nhưng bạn hãy tin tôi, tất cả chúng ta đều nghĩ rằng một đứa trẻ phải rất nghịch ngợm, hoạt náo và chuyên gia bày bừa. Từ “yên tĩnh” và “đứa trẻ” dường như không gắn liền nhau. Tuy nhiên đây là một kết quả ngạc nhiên: bà Maria Montessori đã nghĩ tương tự cho đến khi bà loại bỏ tiền đề này và cho phép đứa trẻ thế hiện những gì chúng có thể làm. Sau đó bà tiến hành quan sát đứa trẻ trong bối cảnh chúng được tự do lựa chọn các hoạt động trong một môi trường được chuẩn bị cẩn thận sẽ trở nên rất yên lặng và hoàn toàn chú tâm vào các hoạt động đó. Chúng sẽ thường xuyên lặp lại một hoạt động nào đó cho đến khi cảm thấy thoả mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Chúng sẽ chú tâm và hấp thu thông tin một cách tự nhiên mà không cần tác động của bên ngoài.

Maria Montessori đã nhận ra điều mà không ai trước đó nghĩ tới: sự yên tĩnh, tập trung va chuyên tâm của đứa trẻ không phải là sự ngoại lệ mà là bản năng tự nhiên của chúng. Đó chính là lý do bà gọi đó là quá trình bình thường (normal). Trên thực tế, những đứa trẻ luôn quấy rối, phá phách mà chúng ta hay bắt gặp chính là do nhu cầu nội tại của chúng không được đáp ứng.

Làm thế nào để đạt được quá trình đó? (How to get to “Normalization?”)

” Thông qua công việc và hoạt động thích hợp mà tính cách của đứa trẻ sẽ có sự biến đổi. Công việc ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ cũng tương tự như thức ăn cứu sống một người đang chết đói. Chúng ta quan sát rằng đứa trẻ khi đang hoạt động sẽ thức tỉnh sở thích của nó bộc lộ, mở rộng hé lộ những đặc tính không thể ngờ tới của đứa trẻ đó, khả năng của trẻ sẽ đem đến cho nó sự thoả mãn cao độ và trẻ sẽ cười rất thích thú và ngọt ngào” ~ Dr. Maria Montessori

Khi ở nhà hay ở trường, trẻ cần phải được chơi các trò chơi hoặc các bài học để đáp ứng nhu cầu phát triển của mình. Và nó cần tự do để lựa chọn những gì mà bản thân nội tại trẻ thích thú. Cha mẹ và giao viên cần cố gắng hết sức để thoả mãn nhu cầu sẽ thông qua việc không ngừng quan sát và chuẩn bị môi trường vui chơi cho trẻ. Khi trẻ tìm thấy bài học phù hợp với mình đúng thời điểm thì bạn sẽ thấy trẻ có sự biến chuyển. Sự thay đổi này sẽ mang đến sự hào hứng với hoạt động, khả năng tập trung cao, cảm giác bình yên, thoả mãn và vui thú.

#10. Niềm vui tự sinh (Spontaneous Joy!)

Maria Montessori đã quan sát đứa trẻ trải nghiệm cái mà bà gọi là “niềm vui tự sinh”. Theo Montessori, một đứa trẻ được phát triển toàn diện là đứa trẻ hạnh phúc. Nói cách khác khi đứa trẻ học hỏi xung quanh một cách tự nhiên và phát triển khả năng tiềm ẩn một cách cao nhất thì sẽ đem đến một trang thái hạnh phúc thuần khiết tự sinh.

# Tóm tắt 10 điều trong phương pháp Montessori

Bước thứ 1 chúng ta hiểu được các giai đoạn phát triển của trẻ, trong đó nổi bật là trạng thái bộ não thẩm thấu thông tin, giai đoạn mẫn cảm và sự khác biệt giữa các cá thể. Đó là cách đứa trẻ học hỏi, là con đường mà chúng đi. Trẻ học mọi thứ xung quanh mà không biết chúng đang học, dần dần trải qua các giai đoạn vô thức đến hoạt động có ý thức mà luôn luôn trong trạng thái vui vẻ, yêu thương.

Khi chúng ta hiểu rõ các vấn đề này thì chúng ta có thể tuỳ biến môi trường hoạt động cho trẻ ở nhà hoặc trong lớp học để đem lại cơ hội học hỏi tối đa cho trẻ. Khi xây dựng được môi trường một cẩn thận, đứa trẻ được tự do chọn lựa các bài học hoặc hoạt động mình yêu thích, và một cách tự nhiên trẻ sẽ hé lộ cho chúng ta thấy nhu cầu mà trẻ đang cần.

Phương pháp Montessori

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :, phần 2, phần 3

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4. Giai đoạn mẫn cảm

#5: Sự khác biệt giữa các cá thể

#6. Lớp học được chuẩn bị theo phương pháp Montessori

#7: Sự tự do lựa chọn

Trong lớp học Montessori, trẻ có quyền tự do lựa chọn những hoạt động chơi được chuẩn bị sẵn một cách cẩn thận. Môi trường trang bị sẵn các trò chơi được xem là yếu tố then chốt! Thông qua sự quan sát cẩn thận cách hoạt động của đứa trẻ, giáo viên và bậc cha mẹ có thể cho con chơi những hoạt động giúp trẻ phát triển tối đa nhất. Bà Maria Montessori biết rằng tất cả đứa trẻ đều có những thế mạnh và sở thích riêng và phương pháp Montessori đem đến cho trẻ quyền tự do chọn lựa để tối đa hoá quá trình học tập thông qua sự khác biệt của các cá thể. Một số người hiểu lầm rằng sự tự do lựa chọn chính là đứa trẻ được quyền làm bất kỳ thứ gì chúng thích hoăc không có một quy tắc nào trong lớp học Montessori. Đây là điều hoàn toàn sai lầm.

Sự độc lập trong ý chí có được bởi sự lựa chọn giữa một mình và tự do, sự độc lập ý chí bởi làm việc một mình và không bị quấy nhiễu. ~Maria Montessori

“Đừng bao giờ giúp một đứa trẻ việc gì mà chúng cảm thấy mình có thể tự làm được” ~  Maria Montessori. Chẳng hạn như mỗi buổi sáng trẻ đến lớp (hoặc ở nhà) và bắt đầu tự lựa chọn bài học. Trẻ được quyền tự do chọn lựa từ những bài học được chuẩn bị sẵn ở các giá thấp hoặc các vị trí trẻ có thể tiếp cận được. Trẻ có thể chọn một bài học/hoạt động mà trẻ cảm thấy quen thuộc, hoặc có thể yêu cầu cái mới. Nếu trẻ lựa chọn cái mới, giáo viên cần hướng dẫn làm thế nào để hoạt động mới này có hiệu quả, hoặc trẻ có thể quan sát những đứa trẻ khác đang chơi. Trẻ có thể chơi một mình hoặc với bạn của mình. Trẻ có thể chơi mãi một trò chơi hoặc sau khi đặt các đồ vật ra khỏi vị trí của nó thì trẻ chuyển sang hoạt động khác. Trên tất cả, giáo viên cần quan sát quá trình chơi của trẻ, chỉ giúp đỡ khi cần thiết và ghi chép lại các bài học/hoạt động để giới thiệu lần tiếp theo.

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

Chúng ta có thể thấy từ ví dụ trên đứa trẻ được trải nghiệm sự tự lựa chọn nhưng không phải tự do hoàn toàn. Tuy nhiên, tại sao sự tự do được lựa chọn lại quan trọng đến vậy? Bởi vì tất cả đứa trẻ đều có khả năng thiên bẩm, một đúa trẻ có thể nhanh chóng học đọc, đứa trẻ khác lại hứng thú một cách tự nhiên với các con số. Đứa trẻ thì rất ưa thể thao hoặc có trẻ thì thiên về âm nhạc và nghệ thuật.

Bạn đã bao giờ để ý rằng khi đứng giữa nhóm những đứa trẻ có tuổi xấp xỉ nhau nhưng không đứa trẻ nào giống nhau? Chúng khác biệt về chiều cao, cân nặng và các mức độ hoạt động của chúng. Một số rụt rè và kè kè bên cạnh bố mẹ trong khi đứa trẻ khác lại thích mạo hiểm.

Bây giờ tiếp tục hình dung rằng chúng ta đặt những đứa trẻ bên cạnh nhau, học cùng một bài học vào thời gian như nhau thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta sẽ bắt gặp một số đứa trẻ thích thú và sẵn sàng học, thế nhưng đối với một số trẻ bài học đó là quá khó hay quá dễ? Vấn đề đơn giản có thể trẻ chưa đến giai đoạn phát triển đó, có thể cần một vài tháng sau nữa? Vậy kỹ thuật một bài học phù hợp cho tất cả ((one fit for all) hầu như bị khuyết thiếu. Có thể đứa trẻ sẽ được lợi từ bài học này còn đứa trẻ khác thì không? Vậy làm thế nào để bạn có thể biết được?

Bản thân chúng ta đã mất đi sự nhạy cảm sâu sắc này và trước sự hiện diện của đứa trẻ mà chúng ta thấy được sự hồi sinh, chúng ta cảm thấy như mình đang chứng kiến sự huyền bí đang được hé lộ. Nó cho thấy một cách tinh tế của việc tự do lựa chọn mà một giáo viên không được đào tạo trong quan sát có thể phá nát chúng trước khi bản thân họ nhận thức được, cũng giống như một con voi đang giẫm nát những bông hoa sắp nở trên đường đi của mình. ~ Maria Montessori

Bà Maria Montessori hiểu được rằng tất cả những sự khác biệt trong cách học và tạo ra một môi trường cho trẻ hàng ngày và lựa chọn điều mà chúng sẵn sàng học một cách phù hợp. Khi đứa trẻ chọn được cho mình các bài học/hoạt động thì nó sẽ đặc biệt thích thủ. Điều này chính là sự mạch bảo của “người thầy” trong con người đứa trẻ đó.

#8 – Tự do và Kỷ luật (Liberty and Discipline)

“Để đứa trẻ làm điều chúng thích khi mà chúng chưa phát triển hết năng lực kiểm soát của mình là đi ngược với khái niệm “tự do”” ~ Maria Montessori

Mặc dù chúng ta nghĩ Tự do và kỷ luật là hai điều đối lập thế nhưng bản chất đó chính là hai mặt của một đồng xu. Chúng ta nghĩ một cách tự nhiên rằng tự do chính là không có nguyên tắc, nhưng theo Montessori bản chất tự nhiên của một đứa trẻ chính là đâu đó chúng thiếu đi các nguyên tắc, đâu đó chúng thiếu cả sự tự do. Sự nhầm lẫn rằng tự do cho phép đứa trẻ làm bất kỳ điều gì chúng muốn rất phổ biến, tuy nhiên các nguyên tắc là một phần không thể thiếu trong phương pháp Montessori khi mà mục tiêu cao nhất chính là dạy cho chúng tính tự giác. Thực tế hình thức quan trọng nhất của kỷ luật chính là đứa trẻ học được tính tự giác.

Sự tự do

“Phương pháp quan sát dựa trên một nền tảng duy nhất – đứa trẻ được phép bộc lộ bản thân một cách tự do và do đó cho chúng ta thấy được nhu cầu và thái độ đối với những điều còn đang ẩn giấu hoặc kìm nén trong môi trường không cho phép chúng dược hoạt động tự phát ” ~ Maria Montessori

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

Trong lớp học Montessori, trẻ được tự do lựa chọn các hoạt động dưới sự giám sát cẩn thận. Đây là điều cốt lỗi bởi nếu không có một môi trường được trang bị sẵn chúng ta không thể đem đến cho trẻ sự tự do lựa chọn. Thông qua việc quan sát đứa trẻ một cách cẩn thận, giáo viên và cha mẹ có thể mang đến cho con hoạt động phù hợp giai đoạn phát triển. Từ đó đứa trẻ được chơi các hoạt động mà chúng thấy hấp dẫn nhất phù hợp với giai đoạn mẫn cảm mà chúng đang trải qua.

Kỷ luật và sự tự giác

Cách hiệu quả nhất để khuyến khích tính tự giác là hiểu được nhu cầu trong từng giai đoạn phát triển của trẻ, từ đó chuẩn bị sẵn môi trường đa dạng các hoạt động để đáp ứng các nhu cầu này. Môi trường càng đáp ứng được nhu cầu của trẻ thì càng có nhiều sự tự do lựa chọn, từ đó  trẻ càng học được tính tự giác. Khi nói đến khái niệm kỷ luật trong phương pháp Montessori, trọng tâm chủ yếu vào rèn luyện tính tự giác cho trẻ. Tự giác là kỹ năng căn bản, cội nguồn của mọi thành công trong việc học tập và sinh sống. Con người với tính tự giác cao có thể đối mặt được với những khó khăn của cuộc sống. Con người có khả năng đưa ra các quyết định tốt bởi họ nghe được sự mách bảo của động lực bản thân. Các nghiên cứu chỉ ra rằng đứa trẻ được rèn luyện tính tự giác sẽ có kết quả học tập cao hơn, thế chất tốt hơn, tỷ lệ li dị thấp và ít sa vào nghiện ngập khi đến tuổi trưởng thành.

“Nếu không có sự tự do thì con người không thể phát triển một cách tốt nhất. Sự tự do là chìa khoá cho mọi hoạt động và trở thành bước đầu tiên khi trẻ có khả năng hoạt động không cần sự giúp đỡ của người khác và ý thức được sự tồn tại độc lập của mình” ~Maria Montessori

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng tính tự giác không phải có thể rèn luyện trong một ngày mà đó phải là kết quả của hàng năm phát triển. Đó chính là một hành trình mà đứa trẻ được học và rèn luyện dần dần từ nhiều tác động và chiến lược khác nhau.

Lớp học Montessori

Dịch Tips for Choosing a Montessori School for your Child

Nếu như bạn quyết định đăng ký cho những đứa trẻ của mình theo học chương trình Montessori, đó là một sự lựa chọn tốt, tuy nhiên quá trình quyết định vẫn còn phải cân nhắc nhiều vấn đề. Bạn phải chọn trường Montessori nào phù hợp với đứa trẻ của mình bởi vì trên thực tế có rất nhiều trường gọi là Montessori nhưng chương trình thì không được như vâỵ. Điều này thật sự khó đối với những người nào còn xa lạ với thế giới của Montessori.

Điều đầu tiên tôi có thể đề xuất với bạn là hãy đến và quan sát lớp học ở đó. Thật khó có thể có cái nhìn chính xác nếu như bạn chỉ đi tour vòng quanh trường hoặc trò chuyện với người quản lý. Bạn phải dành ít nhất 20 phút ngồi yên lặng, quan sát toàn bộ học sinh và cần lưu ý những điểm như sau:

QUAN SÁT LỚP HỌC

  • Lớp học có sạch sẽ, ngăn nắp và có đầy đủ các học cụ Montessori? (For an introduction to Montessori materials, please click here.)
  • Lớp học có tính thẩm mỹ hay không? Như bà Montessori đã giải thích rằng “đầu óc có tính thẩm thấu của đứa trẻ sẽ tìm kiếm tất cả những điều bổ dưỡng ở môi trường xung quanh, do đó hãy tạo ra môi trường thật hứng thú và thu hút mà chúng ta có thể”
  • Có trang bị tủ giá, dụng cụ có kích cỡ cho trẻ em. Đây là điều rất quan trọng để thúc đẩy tính độc lập của trẻ.
  • Các học cụ có được làm từ thiên nhiên như gỗ, thuỷ tinh hay kim loại? Liệu chúng có sạch sẽ, ngăn nắp và trẻ có thể dễ dàng lấy chúng?
  • Phòng học có đem lại sự thoải mái và gây hứng thú để học không?
  • Không khí lớp học có vui vẻ?

QUAN SÁT NHỮNG ĐỨA TRẺ

  • Đứa trẻ có cảm thấy thích thú khi ở đó?
  • Những đứa trẻ có “làm việc” năng suất không? (tức là tập trung vào nhiệm vụ của chúng) hay bị phân tán và không có tổ chức?
  • Những đứa trẻ đang chơi một cách độc lập hay chơi theo từng nhóm nhỏ (thông thường từ 2-4 trẻ) ?
  • Có các lứa tuổi khác nhau của trẻ tham gia lớp học không ? (Thông thường là 2,5 – 6 tuổi, 6-9 tuổi, 15-18 tuổi)
  • Đứa trẻ có thể chọn công việc của chúng và tập trung vào nó mà không bị phân tán?
  • Đứa trẻ có giao tiếp với đứa trẻ khác hoặc ngừoi lớn hơn chúng một cách lễ phép không?

QUAN SÁT GIÁO VIÊN

(cần lưu ý rằng trong lớp học Montessori giáo viên thường được xem là người hướng dẫn)

  • Giáo viên giao tiếp với trẻ như thế nào?
  • Có sự lễ phép giữa giáo viên và học trò hay không?
  • Giáo viên có hướng dẫn cho từng trẻ hay là cả lớp?
  • Các giáo viên có quan sát trẻ một cách cẩn thân để họ có thể thấy được sự phát triển của từng cá thể?

Ngoài ra, đây là một số câu hỏi quan trong mà bạn nên hỏi:

  • Chương trình học là gì?
  • Có thời gian khoảng 3 tiếng trẻ không bị làm phiền hoặc có chương trình học không theo giáo trình hay không?
  • Trường học có tập trung vào việc giúp từng đưá trẻ phát triển tốt nhất khả năng của trẻ (thay vì bằng cấp)
  • Trẻ có bài tập về nhà không?
  • Trẻ có phải tham gia vào các bài kiểm tra mẫu không?
  • Đội ngũ giáo viên có thân thiện, hiểu biết và dễ trao đổi?
  • Lịch sử trường học?
  • Bằng cấp của giáo viên (có được cấp chứng chỉ về giáo dục Montessori hay không vẫn là điều đang bàn cãi)

Cuối cùng và có lẽ quan trong hơn cả đó là hãy tin vào bản năng của bạn. Liệu bạn có cảm thấy thoải mái với môi trường học ở đó không? Lớp học có quá khuôn mẫu hoặc vô tổ chức quá? Đứa trẻ của bạn cảm thấy như thế nào. Những điều đó chỉ có bạn mới biết được và hãy tin vào sự hướng dẫn của chính bản thân mình để đưa ra quyết định chính xác nhất.

Lớp học Montessori

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :, phần 2

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4. Giai đoạn mẫn cảm

#5: Sự khác biệt giữa các cá thể

#6. Lớp học được chuẩn bị theo phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori sử dụng sự hiểu biết toàn diện về 4 trụ cột của việc học để chuẩn bị một môi trường học tối ưu cho trẻ. Trong lớp học Montessori, trẻ có thể chọn những bài học được chuẩn bị sẵn. Một lớp học điển hình theo phương pháp này sẽ có khoảng 200 bài tập cho trẻ chọn và mỗi bài đều có một mục đích cụ thể.

Những tiêu chuẩn của lớp học này tất nhiên cũng có thể áp dụng tại nhà hoặc dành cho việc tự học tại nhà. Việc tự do lựa chọn trò chơi ưa thích nhất giúp cho sự khác biệt cá thể được tôn trọng và tối đa hoá. Chính vì thế, phương pháp giáo dục này có thể giúp mọi đứa trẻ có thể thành công,

Mục tiêu đầu tiên của việc trang bị một môi trường học tập nhằm giúp trẻ trở thành một người trưởng thành độc lập ~ Maria Montessori 

Một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp Montessori là sự chuẩn bị cẩn thận môi trường cho trẻ. Nói cách đơn giản chính là giúp đứa trẻ có thể có công cụ đúng lúc. Maria Montessori giải thích “Nét đặc thù nhất của hệ thống giáo dục chúng tôi chính là nhấn mạnh vào việc đặt gì vào môi trường đó”. Tất nhiên để đạt được điều này chúng ta phải hiểu được nhu cầu phát triển của trẻ và biết được vật liệu hoặc hoạt động nào thích hợp cho nhu cầu đó. Lớp học Montessori được thiết kế để cung cấp các bài tập, hoạt động và công cụ phù hợp với nhu cầu phát triển và sở thích của từng cá nhân. Điều cần ghi nhớ rằng không phải mọi đứa trẻ đều thích thú với các bài tập sẵn có, chính vì thế trẻ em được phép chọn các

Lớp học Montessori

Lớp học Montessori

bài học một cách tự nhiên.

Các chướng ngại vật cần phải giảm thiểu một cách tối đa và môi trường xung quanh phải cung cấp phương tiện cần thiết cho các bài tập hoặc hoạt động để thúc đẩy năng lượng của đứa trẻ ~ Maria Montessori 

Vai trò của giáo viên là quan sát sở thích của mỗi đứa trẻ và quá trình của chúng thông qua các bài tập. Giáo viên sẽ định hướng hoặc hướng dẫn khi cần thiết để giúp đứa trẻ làm quen với học cụ. Dựa trên mối giao tiếp với đứa trẻ, giáo viên có thể đổi học cụ hoặc giới thiệu học cụ mới.

Chỉ có duy nhất một nền tảng của sự quan sát: đứa trẻ phải cảm thấy tự do để biểu đạt bản thân và do đó tiết lộ những nhu cầu và thái độ chưa bộc lộ hoặc đè nén của đứa trẻ trong môi trường mà không cho phép chúng thể hiện  ~Maria Montessori

Các bài học và học cụ trong môi trường được chuẩn bị sẵn phải được đặt thấp trong tầm với của trẻ. Bên cạnh những giá sách tương ứng chiều cao của trẻ, lớp học Montessori có các đồ đạc, công cụ, hộp đựng có kích cỡ trẻ em và có thể lấy được. Lớp học Montessori tối thiểu hoá sự trợ giúp của người lớn và tăng tính tự hoạt động của trẻ.

Khi chúng ta nói đến “môi trường” là chúng ta đã bao gồm tất cả các vật và trẻ có thể tự do lựa chọn và sử dụng khi chúng thích dựa vào nhu cầu và thiên hướng của chúng. Giáo viên đơn giản chỉ trợ giúp lúc mới bắt đầu để trẻ có thể lấy được học cụ giữa hàng loạt đồ đạc khác nhay và dạy chúng cách sử dụng chính xác. Nói cách khác, người giáo viên giới thiệu cho đứa trẻ môi trường của cuộc sống trật tự và chủ động. Tuy nhiên sau đó họ cần để trẻ tự do lựa chọn và bắt đầu công việc của chúng.  ~Maria Montessori

Các vật liệu chúng ta nhìn thấy trong môi trường học tập Montessori ở lớp cũng như ở nhà đã được phát

Mô hình lớp học Montessori

Mô hình lớp học Montessori

triển qua rất nhiều năm quan sát và trải nghiệp. Chúng được sử dụng trên toàn thế giới, được thiết kế phù hợp với trẻ mọi lứa tuổi và giai đoạn. Đứa trẻ được chọn các bài tập và hoạt động phù hợp chính xác với các giai đoạn mẫn cảm mà trẻ đang trải qua.

Học cụ của phương pháp Montessori được thể hiện trong 4 trụ cột của việc học: Kỹ năng sống thực tế, Giác quan, Ngôn ngữ và Toán học (Practical Life, Sensorial, Language and Mathematics)
Vật liệu phát triển kỹ năng sống thực tế

Học liệu cho cuộc sống thực tế là những dụng cụ hàng ngày nhưng có kích thước nhỏ hơn phù hợp với bàn tay và người của trẻ. Chúng ta dạy các kỹ năng sống thực tế như quét nhà, rửa chén bát, đổ nước, soạn bàn ăn hoặc mặc quần áo. Trẻ em theo bản năng sẽ bắt chước những hoạt động hàng ngày mà chún thấy. Thông qua các bài học này, trẻ sẽ phát triển các kỹ năng vận động to và nhỏ, thăng bằng, phối hợp tay mắt, kỹ năng giải quyết vấn đề, sự độc lập, tự tin…

Vật liệu cho phát triển giác quan

Các vật liệu này được thiết kế để giúp trẻ học thông qua các giác quan. Sau các nghiên cứu lâu năm, việc học các giác quan là nền tảng cơ bản cho sự phát triển bộ não. Từ lúc mới sinh, đứa trẻ cần lượng lớn khổng lồ các thông tin về giác quan để xây dựng sự kết nối giữa các nơ-ron thần kinh cần thiết cho trí thông minh của con người.

Vật liệu giúp phát triển ngôn ngữ và toán học

Các hoạt động về kỹ năng sống thực tế và phát triển giác quan giúp xây dựng nền tảng bộ não cần thiết cho ngôn ngữ, toán học, khoa học… Sự phát triển ngôn ngữ bắt đầu sớm với các ngôn ngữ nói và âm thanh của nói tiếp đến học chữ cái – được xem là biểu tượng của những âm thanh này. Sau đó xây dựng từ vừng và các câu nói. Những kỹ năng này mở cánh cửa đọc, viết và ngữ pháp cho trẻ. Các lớp học Montessori sử dụng chữ cái giấy nhám, thẻ âm và bảng chữ cái rời.

Phương pháp Montessori cũng sử dụng các học liệu sẵn có để dạy toán và khoa học. Thông qua học liệu như chuỗi hạt vàng, que tính, hộp que tính quay (spindle box), trẻ có thể học được những khái niệm cơ bản về toán học và khoa học.

giao dục tự nhiên stoner

Nhờ một lần đọc cuốn sách Thiên tài và sự giáo dục từ sớm của tác giả Kimura Kyuichi mà tôi tiếp cận được với phương pháp giáo dục tự nhiên của bà Winifred Sackville Stoner (W.S. Stoner). W.S Stoner đã viết 2 cuốn sách trong đó trình bày những quan điểm và phương pháp giáo dục tự nhiên áp dụng đối với người con gái duy nhất của bà Winifred là Natural Education (năm 1914) và Manual of natural education (năm 1916).

Có thể thấy phương pháp giáo dục tự nhiên của bà Stoner cũng tương tự như người cha của Karl Witte – người được xem là mở đầu cho phương pháp giáo dục trẻ từ sớm (early childhood education) và phu nhân Stoner cũng đã bắt đầu hướng sự giáo dục cho con từ khi con gái mới 6 tuần tuổi. Phương pháp giáo dục tự nhiên của Stoner đi sâu vào kích thích trí tưởng tượng, yêu và thích hưởng thụ cái đẹp, khác với Montessori như Stoner đã nói:

“Phương pháp giáo dục Montessori không thể giáo dục con bạn trở thành thiên tài  bởi vì bà chỉ chú trọng vào hiện thực, không phát huy trí tưởng tượng của trẻ. Không phủ nhận bà là nhà giáo dục vĩ đại và những cống hiến của bà là rất lớn, nhưng phương pháp đó có lẽ chỉ phù hợp với những trẻ chậm phát triển, còn đối với những trẻ bình thường thì không thật sự hiệu quả. Tôi đoán bản thân bà không phải là người có trí tưởng tượng phong phú vì bà coi những câu chuyện thần tiên là thứ xuẩn ngốc và phương pháp của bà không đếm xỉa đến việc khơi gợi trí tưởng tượng của trẻ. Tuy nhiên, trên thực tế những thứ xuẩn ngốc đó lại đem đến cho trẻ những năng lực sáng tạo dồi dào mà các phương pháp giáo dục hiện thực của bà không làm được”

(Trích Thiên tài và sự giáo dục từ sớm – Kimura Yuichi, trang 211).

Để tiếp cận với phương pháp giáo dục của Stoner, cuốn Manual of Natural Education xuất bản năm 1916 (xem bản ebook tại đây) đã đưa ra 30 nguyên tắc của vệc giáo dục tự nhiên:

Nguyên tắc của phương pháp giáo dục tự nhiên

  1. Giáo dục phải được thực hiện từ khi đứa trẻ sinh ra cho đến khi cuối đời
  2. Là một sự đào tạo làm cha mẹ
  3. Phát triển bộ ba tinh thần – thể chất – ý chí của đứa trẻ từ khi mới sinh ra
  4. Phát triển tài năng của mọi đứa trẻ bình thường bởi các bậc cha mẹ
  5. Trẻ được dạy chơi với những mục đích cụ thể
  6. Phát triển 5 giác quan
  7. Trẻ được khuyến khích dùng những câu hỏi tìm kiếm thông tin tự nhiên
  8. Cha mẹ khuyến khích nên trả lời các câu hỏi của trẻ
  9. Phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo trong bất kỳ hoàn cảnh nào
  10. Coi mẹ thiên nhiên (đấng tạo hoá) là người thầy đầu tiên
  11. Khuyến khích sự biểu lộ hơn là đè nén
  12. Khuyến khích trẻ dạy những gì trẻ được dạy
  13. Dạy cho đứa trẻ theo từng đặc thù cá thể độc lập hơn là trong lớp học
  14. Đưa cho trẻ những đồ chơi có tính xây dựng hơn là phá hỏng, dạy trẻ biết trân trọng biết cho đi trong cuộc sống hơn là nhận lại
  15. Hãy đem đến cho trẻ những suy nghĩ thật tốt đẹp trong thời kỳ ghi nhớ (memory period – từ 5 đến 12 tuổi) để đến thời kỳ trẻ biết lý lẽ (bắt đầu từ tuổi 12) trẻ sẽ có những nền tảng tốt
  16. Hãy dạy cho trẻ tất cả các ngôn ngữ trước 12 tuổi theo cách tự nhiên nhất
  17. Phát triển bản năng nhịp điệu thông qua sự nhịp nhàng đều đặn
  18. Dạy âm nhạc thông qua việc nghe trước khi nhìn
  19. Dạy những sự kiện quan trọng thông qua các bài thơ vần điệu
  20. Trang bị những kiến thức cuộc sống để trở thành công dân có ích
  21. Thay vì sử dụng các kỳ thi kiểm tra thì dùng các cuốn sách kiến thức
  22. Hãy trả lương cao cho giáo viên, ít giờ dạy và ít học sinh hơn
  23. Khuyến khích bản năng biết nuôi dưỡng từ nhỏ thông qua công việc làm vườn hoặc chăm sóc người khác
  24. Dùng ngôn ngữ Esperanto
  25. Dạy cách nói, phát âm phiên âm thông qua máy đánh chữ
  26. Hãy luôn kể các câu chuyện cổ tích, tình yêu, lòng cảm thông và vui vẻ ở nhà và ở trường
  27. Loại bỏ ma quỷ, sợ hãi, lo lắng hay vội vã
  28. Ngừng nói “Tôi không thể” mà hãy nói “Tôi sẽ thử”
  29. Luôn đặt ra những ý tưởng cao
  30. Đặt 5 nền tảng cơ bản của sự giáo dục bao gồm: sự quan sát, sở thích mãnh liệt, sự tập trung, bắt chước và khám phá

Mục đích của giáo dục tự nhiên đó là đem đến cho mối quan hệ vòng tròn giữa cha mẹ – con cái- giáo viên một môi trường đầy tình yêu và sự cảm thông, trong đó cha mẹ sẽ phải học cách giáo dục con cái một cách tự nhiên nhất và con cái cũng sẽ chỉ ra những tín hiệu cho cha mẹ là nên giáo dục như thế nào.

Giao duc Montessori

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4: Các thời kỳ nhạy cảm 

Thời kỳ nhạy cảm là lúc đứa trẻ bùng cháy thích thú vào điều gì đó, trong suốt giai đoạn đó đứa trẻ sẽ học được một kỹ năng mới đặc thù ~ Mary Ellen Maunz

Trong suốt những năm nghiên cứu và quan sát, Maria Montessori khám phá ra “các thời kỳ nhạy cảm” – chính là cửa sổ phát triển của cơ hội theo đó đứa trẻ có thể học được các khái niệm đặc thù một cách dễ dàng và tự nhiên hơn bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời chúng. Một đứa trẻ rơi vào thời kỳ nhạy cảm sẽ thể hiện sự thích thú mãnh liệt hoặc thiên về một hoạt động hay bài học nào đó.

Đó chính là sự nhạy cảm cho phép một đứa trẻ giao tiếp với thế giới bên ngoài theo một cách mãnh liệt nào đó. Mọi nỗ lực đánh dấu sự gia tăng năng lượng của chúng ~ Maria Montessori

Đó là lý do chính của phương pháp Montessori dựa trên việc học do trẻ làm chủ (child-led learning). Hãy để những đứa trẻ làm theo sở thích và bản năng của chúng để tối đa hoá sức mạnh trong những giai đoạn mẫn cảm này. Tuy nhiên nếu cơ hội trong giai đoạn này bị bỏ qua thì chúng sẽ không thể có lại nữa. May mắn thay cho chúng ta nắm bắt được điều này nhờ tài năng của bà Maria Montessori. VIệc hiểu được điều gì xảy ra và khi nào sẽ cho phép những bậc cha mẹ, giáo viên, ông bà hay người trông trẻ tham gia vào và tạo ra một môi trường cần thiết để đáp ứng những nhu cầu của trẻ.

Tôi quan sát những đứa trẻ nhỏ, cảm nhận những nhu cầu của chúng, tôi cố gắng đáp ứng chúng, đó gọi là phương pháp Montessori ~ Maria Montessori

Bà Maria Montessori đã phát hiện và phân loại 11 giai đoạn nhạy cảm cơ bản của sự phát triển như sau:

Montesorri-Infographic-Pie-Chart-BOTTOM-NO-KEY-Final2

  • Vận động (Movement): Từ 0-7 tuổi
  • Mô hình toán (Math patterns): Từ 0 – 3,5 tuổi –> Toán học: 4-7 tuổi
  • Kiểm soát cảm xúc (Emotional control): Từ 0 – 2,5 tuổi
  • Tính trật tự (Order): Từ 6 tháng – 3,5 tuổi
  • Thích những đồ vật nhỏ (Interest in small objects): Từ 1 – 3,5 tuổi
  • Từ vựng (Vocabulary): Từ 1 – 3,5 tuổi
  • Các giác quan (Sensations): Từ 2,5 – 6,5 tuổi
  • Hình dạng chữ cái, âm thanh (Letter shapes and sounds): Từ 2,5 – 5 tuổi
  • Âm nhạc (Music): Từ 3-7 tuổi
  • Viết (Writing): Từ 4,5 – 7 tuổi
  • Reading (Đọc):Từ 5 – 7 tuổi

Vận động (Movement): trẻ em lúc sinh ra chỉ hạn chế trong một số vận động nhưng nhanh chóng có thể kiểm soát được những vận động tinh (fine motor) và vận động thô (gross motor). Khi chúng học cách sử dụng cơ thể thì chúng đang phát triển các khả năng nhận thức

The hands are the instruments of man’s intelligence. ~ Maria Montessori

Các hình dạng toán (Math pattern): những đứa trẻ sinh ra với cái đầu tư duy toán học. Montessori khám phá ra rằng chúng sinh ra đã học toán theo một cách tự nhiên 

Kiểm soát cảm xúc (Emotional Control): Đứa trẻ học về các mối quan hệ, giao tiếp và kiểm soát cảm xúc từ giây phút mới sinh.

Nhu cầu về tính trật tự: (Need for Order): Đứa trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi có nhu cầu nội tại về tính trật tự. Đây là nhu cầu tâm lý lớn. Nhiều cha mẹ đã không nhận ra được điều này. hầu hết các bậc cha mẹ chúng ta quan sát đứa con nhỏ đang hoạt động theo cách có tính trật tự. Tuy nhiên, các chuyên gia Montessori đã nhiều lần chứng minh rằng một khi cac chuẩn mực được thiết lập, nhu cầu nội tại của đứa trẻ về tính trật tự sẽ được kích hoạt. và nhiều lúc những cơn nóng giận vô cớ bướng bỉnh là kết quả của cảm giác tính trật tự của đứa trẻ bị gián đoạn. 

Từ vựng (Vocabulary): Đứa trẻ sinh ra đều có nhu cầu bẩm sinh về việc học tập ngôn ngữ. THiên hướng này giúp cho đứa trẻ dưới 6 tuổi học ngôn ngữ dễ dàng hơn.

Thích thú những đồ vật nhỏ (Interest in Small Objects): Những đứa trẻ từ 1 – 4 tuổi sẽ trải nghiệm giai đoạn mẫn cảm về các đồ vật nhỏ. Sự thích thú này ắt hẳn đẫn đến sự phát triển các vận động tinh và cầm nắm. Đây cũng là nền tảng của việc học viết và các kỹ năng quan trọng khác.

To talk is in the nature of man. ~ Maria Montessori

Giai đoạn đặc biệt về giác quan (Special Epoch for Sensation): Đứa trẻ học một cách dễ dàng và hiệu quả hơn thông qua thực hành, trải nghiệm giác quan vật lý hơn là việc nhìn và nghe một bài học.

Hình dạng chữ cái và âm thanh (Letter shapes and sounds): Đứa trẻ cũng trở nên nhạy cảm và thích thú đối với hình dạng chữ cai và âm thanh. Giữa độ tuổi từ 2,5 đến 5 tuổi, đứa trẻ thích các hoạt động như tập vẽ chữ bằng ngón tay, kết nối phát âm của chữ với hình dạng của nó.

The Letters are a stimulus, which illustrate the spoken language already in the mind of the child. ~Maria Montessori

Âm nhạc (Music): Khoảng 3 tuổi đứa trẻ sẽ trải qua giai đoạn mẫn cảm đối với nhịp điệu, âm thanh, giai điệu,… Âm nhạc giúp phát triển bộ não dẫn đến sự phát triển cảm xúc, học thuật và kỹ năng xã hội.

Viết và đọc (Writing and Reading): Việc phát triển đọc và viết là sự trang bị cho trí tuệ của trẻ. Đứa trẻ được tiếp cận đúng dạng thông tin đúng lúc. Khi cung cấp cho đứa trẻ các vật liệu, bài học hay các hoạt động cho chúng thì việc học đọc là một quá trình tiếp theo. Đây là một ưu điểm của phương pháp Montessori. Trong môi trường được chuẩn bị theo phương pháp Montessori, đứa trẻ sẽ chọn những học liệu dựa trên sở thích và sự sẵn sàng của chúng.

 #5: Sự khác biệt giữa các cá thể (Individual Differences)

 

.

Bất kỳ ai đã từng dành thời gian với con trẻ đều có thể nói rằng mỗi đứa trẻ đều khác nhau. Chúng có những sở thích, thế mạnh và nhu cầu phát triển khác nhau. Vì có sự khác nhau đó, liệu việc dạy tất cả đứa trẻ cùng một bài học vào cùng một thời điểm có phải là điều khó hiểu? KHông hẳn vậy, nhưng đây là điều mà cách giáo dục truyền thống đã làm trong suốt thời gian qua. Nó là Mô hình giáo dục ít chú ý đến sự khác biệt này.

Trong suốt cuộc dời quan sát và nghiên cứu, Maria Montessori đã phát triển một phương pháp giáo dục toàn diên và hiệu quả phù hợp cho từng đứa trẻ với từng nhịp điệu của chúng. Vậy phương pháp đó hoạt động như thế nào? Các nhà giáo dục Montessori bao giờ cũng phải trang bị hiểu biết sâu sắc về bốn trụ cột của việc học: “Đời sống thực tế, Phát triển giác quan, phát triển ngôn ngữ và Trang bị sớm cho bộ óc toán học”  (Practical Life, Sensorial Development, Development of Language, and Early Preparation of the Mathematical Mind)

Tóm tắt 4 trụ cột của việc học

Practical life: Các bài tập nhằm phát triển sự kết nối, tập trung, cảm giác về trật tự và tính độc lập. Các bài tập này bao gồm việc tự chăm sóc bản thân, chăm sóc môi trường, bài học về lễ nghĩa và các hoạt động vận động tinh.

Các bài tập chăm sóc bản thân như: cài cúc, kéo khoá, rửa tay..

Chăm sóc môi trường như: quét nha, lau bàn hoặc hốt rác

Lễ nghi như chào hỏi, giới thiệu, các tập tục như bắt tay …

Bài tập vận động như diễu hành, khiêu vũ hoặc đi trên đường thẳng …

Phát triển giác quan: (Sensorial Development): các bài tậpvề phát triển 5 giác quan: nhìn, nghe, ngửi, nếm và chạm. Ngoài ra các bài học về giác quan còn chuẩn bị cho trẻ các bài học nâng cao về việc đọc, viết, toán, khoa học và âm nhạc

Trang bị sớm cho bộ óc toán học: Phương pháp Montessori sử dụng các vật liệu hữu hình để dạy trẻ các khái niệm trừu tượng của toán học. Đó là làm thế nào để trẻ học được nền tảng cơ bản suy nghĩ toán học. Ví dụ như trang bị sớm tư duy toán học. Những nền tảng này đặt nền móng cho việc phát triển số học cơ bản như công-trừ-nhân-chia. Đứa trẻ bắt đàu học ngôn ngữ từ lúc mới sinh (hoặc trước đó) và dễ dàng hấp thụ được từ, nghĩa của từ trong nhữn năm đầu đời.

Phát triển sớm ngôn ngữ (Early development of language): các bài tập bắt đầu với ngôn ngữ giao tiếp cơ bản, từ vựng và sự chú ý đến âm vị. Tiếp đó trẻ sẽ học các chữ cái, học từ và xây dựng câu. Tất cả sẽ dẫn đến sự phát triển kỹ năng đọc và viết.

Phương pháp Montessori

Trước khi sinh ra hai thiên thần bé nhỏ, mình đã tìm đọc rất nhiều sách về các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ trong đó có phương pháp của bà Maria Montessori mà hiện nay mọi người đều rất quan tâm. Việc hiểu được cơ bản mỗi phương pháp đó dường như rất quan trọng vì giúp mình đỡ lạc lối trong hàng loạt các sách lý thuyết, bài chia sẻ và thực hành.

Đối với phương pháp này, mình nhận thấy 10 điểm mà bà Mary Ellen Maunz, M. Ed., người sáng lập chương trình Age of Montessori tóm tắt rất dễ hiểu và có thể làm kim chỉ nam cho việc tiếp tục nghiên cứu phương pháp cũng như các vấn đề giáo dục khác ứng dụng dựa trên nền tảng này.

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

#1. Hai thái cực của con người (two poles of humanity)

Bà Maria Montessori đã phát hiện ra những bí ẩn về những đứa trẻ dựa trên sự quan sát và nhận biết được chúng thực sự cần những gì.

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

“Sự phát triển của con người trải qua hai giai đoạn quan trọng nhưng khác nhau và riêng biệt về hình thức và mục đích, (bà Montessori) gọi đó là “hai thái cực” của con người. Đứa trẻ hoạt động vì sự thích thú đơn thuần để thoả mãn bản thân nó, trong khi đó người trưởng thành làm việc để đạt được một số mục đích nhất định. Sự khác biệt cơ bản này dường như không được chú ý đến và sự tiến bộ của loài người chủ yếu dựa hoàn toàn vào nhu cầu của người lớn” ~ Mary Ellen Maunz (người sáng lập Age of Montessori)

Đã bao giờ bạn chú ý đến làm thế nào đứa trẻ lại có thể say mê với một số hoat động (trò chơi) một cách không giải thích nổi? Hoặc chúng hoàn toàn mê mải một nhiệm vụ mà bạn không thể hiểu nó thú vị ở chỗ nào? Điều đó giống như một câu chuyện kinh điển về đứa trẻ nhân được món quà là bộ đồ chơi đắt nhất, to nhất và sành điêụ nhất nhưng lại chỉ chơi một cách không ngừng nghỉ với chiếc vỏ hộp của món quà ấy. Tất cả chúng ta thấy rằng đó là ví dụ chứng minh sự khác nhau giữa suy nghĩ của trẻ em và người lớn. Một số giả định rằng đầu óc đứa trẻ đơn giản là một phiên bản chưa có định dạng và chưa trưởng thành của người lớn, nhưng Montessori khám phá ra rằng đó không phải là lời giải thích đúng đắn. Triết lý Montessori phân biệt giai đoạn bộ óc phát triển (developing mind) là một thái cực khác của con người” – chứ không đơn giản là phiên bản trẻ con của người lớn.

“Khi sinh ra, đứa trẻ rời khỏi bụng mẹ và trở thành một cơ thể độc lập. Đứa trẻ sẽ có sự thôi thúc, hoặc nhu cầu đối mặt với thế giới mới và học cách thích nghi với chúng. Chúng ta có thể nói rằng đứa trẻ sinh ra luôn có tâm lý chinh phục thế giới” ~Maria Montessori

Montessori quan sát rằng đứa trẻ được sinh ra với nhu cầu nội tại là hiểu được môi trường xung quanh chúng và hấp thụ các thông tin giống như miếng bọt biển được ngâm trong nước. Montessori gọi là bộ óc thẩm thấu. Đây chính là cách mà đứa trẻ liên tục có nhu cầu nội tại chinh phục môi trường xung quanh.

“Các ấn tượng ùa về trong chúng ta (người trưởng thành) và chúng ta cất giữ trong đầu óc; nhưng bản thân chúng ta vẫn luôn có khoảng cách với ấn tượng đó như bình hoa và nước không cùng nhau. Tuy nhiên, đứa trẻ lại trải qua một quá trình chuyển đổi. Ấn tượng không chỉ đơn thuần nhập tâm trí óc chúng và tạo thành hình trong chúng. Ấn tượng đó hiện thân trong mỗi đứa trẻ… và chúng ta đặt tên cho hình thức về tinh thần này là “bộ óc thẩm thấu” (absorbent mind)” ~ Maria Montessori

Hiểu được rằng đứa trẻ “hoạt động” nhằm thoả mãn động lực nội tại của chúng và không phải để phục vụ cho những mục đích ngoại tại sẽ giúp chúng ta nhận thức được nhu cầu phải làm phong phú môi trường học tập cho chúng. Trong một môi trường “được chuẩn bị”, đứa trẻ có thể được tự mình trải nghiệm. Nhìn từ góc độ người lớn, con đường chọn sẵn cho đứa trẻ có thể ngẫu nhiên và không tuân theo một nguyên tắc nào, đặc biệt kể từ lúc chúng ta không thể lúc nào cũng thấy hoặc đo lường được sự phát triển có tính học thuật. Tuy nhiên các kết quả cuối cùng sẽ hé lộ thông qua sự tự tin ngày càng tăng của đứa trẻ, sự tự chủ và tài năng của chúng từng bước một đạt được. Điều này là một trong những kiến thức mà chúng ta – người giáo viên hoặc cha mẹ có thể đạt được khi hiểu các bí ẩn của giáo dục theo phương pháp Montessori.

#2. Hỗ trợ cho cuộc sống (help to life)

Đây là phương pháp giáo dục được xem là sự hỗ trợ cho cuộc sống, giáo dục từ lúc mới sinh

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

cần đem đến một cuộc cách mạng hoà bình và thống nhất trong tất cả các mục tiêu thông thường. Người mẹ, người cha, các chính trị gia cần phải tôn trọng và hỗ trợ cho công cuộc tinh tế này và đứa trẻ có thể tiếp tục khám phá những bí ẩn tâm lý sâu sắc dưới sự giám sát của chỉ dẫn nội tại. Đây là hy vọng mới tươi sáng của nhân loại – Maria Montessori

Qua lời trích dẫn trên của Montessori, bà tin rằng giáo dục nên hiểu là “sự hỗ trợ cho cuộc sống”. Tuy nhiên, điều mà Montessori thực sự nói đến khi gọi giáo dục là một sự hỗ trợ cho cuộc sống là gì?

Nhiều bậc cha mẹ và giáo viên nghĩ đến “three R ” (Reading – đọc, Writing – Viết, và Arithmetic – số học) khi nói về giáo dục. Những người theo phương pháp Montessori (Montessorian) đương nhiên đồng ý rằng những nền tảng đó là các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống, nhưng họ cũng hiểu rằng có nhiều điều có thể đạt hơn nữa thông qua quá trình học tâp. Đứa trẻ có thể học những kỹ năng cần thiết để có thể suy nghĩ và hành động độc lập sáng tạo trong quá trình vận động (Movement), giao tiếp (Communication) và phát triển các giác quan (Sensorial development).

Sự phát triển của đứa trẻ đi theo con đường gồm các giai đoạn nối tiếp độc lập, và kiến thức này phải hướng dẫn chúng ta trong cách ứng xử với đứa trẻ. Chúng ta cần giúp đỡ đứa trẻ hành động, suy nghĩ và cả ý chí.

Sự vận động

Từ giây phút chào đời, sự vận động giúp đứa trẻ chạm tới những thứ xung quanh mình. Khi đứa trẻ học cách vận động, chúng không chỉ kiểm soát được các cơ (kiểm soát vận động) mà còn giúp trải nghiệm sự phát triển các tế bào thần kinh. Mục đích giáo dục đứa trẻ trong quá trình này và hướng dẫn chúng những hoạt động nhằm tổ chức và kết nối vận động, Khi một đứa trẻ có định hướng, vận động trở nên có định hướng, chúng sẽ “lớn lên một cách thầm lặng, thoải mái và trở thành một công dân hoạt bát, bình tĩnh và đầy niềm vui” như Montessori miêu tả. Điều này đã được quan sát rất nhiều trong các lớp học theo phương pháp Montessori trên toàn thế giới.

Giao tiếp

Đứa trẻ đến với thế giới này gắn liền với việc học ngôn ngữ. Học nói là bản chất tự nhiên của con người và xu hướng bẩm sinh này sẽ khiến cho việc học các ngôn ngữ đặc biệt dễ dàng đối với trẻ dưới 6 tuổi. Ngay từ ban đầu đứa trẻ đã dùng biểu cảm nét mặt, động tác và lời nói để trao đổi những nhu cầu cơ bản của chúng. Đến năm 2 tuổi, nhu cầu giao tiếp tự nhiên của đứa trẻ sẽ khiến chúng học đọc và viết. Do sự phát triển ngôn ngữ có mối quan hệ bện chặt với sự phát triển thể chất và trí thông minh của đứa trẻ.

Sự phát triển giác quan

Quan sát khoa học đã chỉ ra rằng việc giáo dục không phải là cái giáo viên đưa ra, giáo dục là quá trình tự nhiên của mỗi cá thể con người và không phải đạt được chỉ thông qua việc nghe nói mà phải thông qua việc trải nhiệm với môi trường xung quanh.

Việc phát triển các giác quan bắt đầu từ lúc mới sinh (thậm chí còn trước đó). Thông qua các giác quan, đứa trẻ nhanh chóng phát triển bằng cách hấp thụ không giới hạn lượng thông tin mới của thế giới mới như miếng bọt biển thấm hút nước. Phát triển giác quan thực hiện thông qua 5 giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Việc phát triển giác quan không những giúp đứa sẽ cảm thụ được điều mới và còn chuẩn bị cho bộ não tiếp nhận những bài học thuật sắp tới như toán học, khoa học và nhiều hơn nữa.

#3. Bộ óc thẩm thấu (The absorbent mind)

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

“Đứa trẻ bắt đầu với những kiến thức xung quanh môi trường mình. Làm thế nào để đứa trẻ hoà nhập được? Chúng thực hiện điều đó hoàn hoàn dựa vào một trong những đặc điểm mà bây giờ chúng ta nói đến – đó là sự nhạy cảm đặc biệt và mãnh liệt do những thứ xung quanh tác động, đánh thức sở thích và tính hiếu kỳ của chúng. Đứa trẻ hấp thụ những ấn tượng không chỉ với bộ óc mà còn với cách sống. ~Maria Montessori, The Absorbent Mind

Đứa trẻ có mối quan hệ khác nhau với môi trường xung quanh chúng từ chúng ta và đứa trẻ hấp thụ chúng. Những thứ chúng thấy không chỉ được ghi nhớ và còn hình thành một phần tâm hồn. Những thứ đứa trẻ thấy bằng mắt mình, nghe bằng tai xung quanh thế giới sẽ hiện thân trong bản thân đứa trẻ. Một trong những khám phá quan trọng và cơ bản của Montessori chính là “bộ óc thẩm thấu“. Trong suốt 6 năm đầu đời, đứa trẻ có những cách học tập khác so với người lớn. Ở độ tuổi này, đứa trẻ có bộ não như miếng bọt biển, có thể thẩm thấu một khối lượng khổng lồ các kiến thức từ môi trường xung quanh và chúng học hỏi một cách không mệt mỏi, liên tục và không phân biệt điều gì. Bộ não đứa trẻ gắn liền với sự học hỏi ở một tốc độ nhanh chóng. Khi bạn nghĩ về tất cả những gì đứa trẻ có được trong những năm đầu đời (giao tiếp bằng lời, không bằng lời, kiểm soát vận động, kỹ năng xã hội, cảm xúc,..) thì mới thấy kinh ngạc.

“… Nếu chúng ta so sánh khả năng của người lớn và trẻ con, những việc mà chúng ta mất 60 năm lao động để đạt được thì một đứa trẻ có thể làm được trong 3 năm đầu đời của chúng” ~ Maria Montessori (The Absorbent mind)

Tầm quan trọng to lớn của giai đoạn bộ óc thẩm thấu

Làm thế nào đứa trẻ có thể làm được điều đó? Với bộ óc có khả năng thẩm thấu đến kinh ngạc! Bà Maria Montessori đã giải thích rằng trong giai đoạn này, đứa trẻ đang dần hình thành bản thân mình, hoặc trang bị bước vào giai đoạn trưởng thành của chúng. Sự phát triển này xảy ra trong suốt 6 năm đầu đời rất quan trọng. Đứa trẻ phát triển 85% cấu trúc bộ não trước khi bước sang 5 tuổi và chúng tiếp tục phát triển suốt chặng đường đời còn lại dựa trên nền tảng cơ bản này.

Giai đoạn bộ óc tiếp thu theo tiềm thức

Maria Montessori phân biệt giai đoạn bộ óc thẩm thấu thành hai giai đoạn nhỏ: Giai đoạn chưa ý thức và giai đoạn tiếp thu có ý thức. Từ lúc sinh ra đến 3 tuổi, đứa trẻ tiếp nhận thông tin một cách không có ý thức hoặc không hiểu. Đứa trẻ muốn học ngồi, đứng, đi lại, sử dụng bàn tay hay nói…mà không cần nỗ lực có ý thức. Đứa trẻ đang phát triển những chức năng cơ bản thông qua bắt chước. Trẻ con ở giai đoạn này sẽ bắt chước những gì chúng nhìn thấy. Tất cả điều đó nhằm chuẩn bị bước sang giai đoạn tiếp theo: giai đoạn tiếp thu có ý thức.

Từ 3 tuổi đến tầm 6 tuổi, trẻ chuyển sang giai đoạn phát triển có ý thức. Bộ óc của đứa trẻ vẫn giống như miếng bọt biển và tiếp thu thông tin một các dễ dàng, tuy nhiên bây giờ chúng sẽ có nhu cầu trải nghiệm có ý thức. Trẻ em trong giai đoạn này đang phát triển những chức năng mới. Chúng bắt đầu học tập những thứ như tính trật tự, sắp xếp, toán đơn giản, âm nhạc, chữ cái và âm thanh. Những thứ này cuối cùng cũng dẫn đến kỹ năng toán học, đọc hiểu và viết. Chúng cũng tiếp tục kiểm soát tốt hơn vận động, cân bằng, cơ chế vật lý cơ bản. Trẻ em trong giai đoạn này sẽ thể hiện mong muốn tự thân (thường rất quyết liệt) là tự được chọn lựa và hoàn thành một công việc một cách độc lập. Maria Montessori gọi điều này là giai đoạn “giúp tôi làm nó một mình” (“help me to do it myself”).

(…)