ota-hiromi-Momen-no-handkerchief kayokyoku

Momen no handkerchief là một trong những ca khúc thịnh hành của dòng nhạc Kayokyoku trong những năm 80 làm nên tên tuổi của ca khúc Hitomi Ota. Giản dị, trong sáng một kết thúc buồn của câu chuyện tình nhưng không khiến con người bi luy là điều khiến ta có thể say sưa với giai điệu này.

Này em yêu hỡi,
Anh sẽ rời xa nơi này trên chuyến tàu về hướng đông
Đến nơi thành phố đầy ánh sáng
Anh đang dành thời gian tìm kiếm mua cho em một món quà.

Không anh yêu hỡi!
Em không cần thứ gì cả
Chỉ cần anh quay trở về nhé
Chỉ cần anh không nhuốm màu sắc phồn hoa.

Ồ, tình yêu của anh, nửa năm đã qua đi
Chúng ta đã không gặp được nhau, nhưng xin em đừng khóc nhé
Anh sẽ tặng em chiếc nhẫn thời trang nhất ở thành phố
Nó sẽ rất hợp với em, rất hợp với em đấy.

Không cần anh ạ, thậm chí là những ngôi sao kim cương
hay châu ngọc tận biển sâu
Em không cần gì ngoài nụ hôn của anh
Nụ hôn đó sáng hơn thảy.

Ôi, em yêu sao em vẫn ngây thơ vậy!
Em không tô son đúng không
Em có thể không nhận ra anh trong bức ảnh này đâu
Anh mặc bộ đồ vest thật đẹp.

Không, em rất thích
Hình dáng anh nằm trên bãi cỏ
Nhưng nơi thành phố gió thổi lạnh lẽo ấy
Xin anh giữ gìn sức khỏe nhé!
Xin anh giữ gìn sức khỏe nhé!

Ôi tình yêu của anh, anh đã quên mất em
Xin lỗi vì anh đã thay đổi nhé!
Mỗi ngày anh rất hạnh phúc khi đi trên từng góc phố
Nên anh không thể trở về, không thể về em ạ!

Tình yêu của em, em chỉ còn một yêu cầu cuối
Để lau nhòa giọt nước mắt của em
Xin hãy tặng em chiếc khăn tay anh nhé!
Hãy tặng em chiếc khăn tay anh nhé!

Sukiyaki - I look up as i walk

Ca khúc Ue wo muite arukou (còn gọi là Sukiyaki) – Tôi ngẩng đầu lên bước đi – là một trong những bài hát thuộc thể loại kayokyoku và được biết đến trên toàn thế giới thời những năm 60, đáng chú ý là được thuộc xếp hạng trong bảng Billboard Mỹ năm 1963 và là một trong những ca khúc nước ngoài (không dùng tiếng Anh) ngoài tiếng  Pháp và Tây Ban Nha lọt vào bảng xếp hạng này. Ca khúc Sukiyaki đứng đầu trong năm 1961 (năm phát hành) và liên tục được xếp hạng đầu trong các bảng xếp hạng khác.

Bên cạnh đó Sukiyaki liên tục được các quốc gia khác cover lại như Brasil (looking up the sky), Canada, Hongkong, Hoa Kỳ (với tên My First Lonely Night), Anh, Phần  Lan, Hà Lan, Đan Mạch,… và nhiều bản nhạc không lời chuyển soạn khác. (Xem wiki)

Đây là ca khúc do Kyu Sakamoto (1941), sinh ra trong gia đình có 9 anh chị em. Anh được biết đến là một ca sỹ và diễn viên nổi tiếng tại  Nhật  Bản thời kỳ lúc bấy giờ. Tuy nhiên anh đã qua đời do tai nạn máy bay (đây là tai nạn hàng không khủng khiếp nhất trong lịch sử hàng không Nhật  Bản và đứng thứ 3 trên thế giới, sau vụ 11-9 tại  Mỹ). Trước khi máy bay lao xuống mặt đất 30 phút, Kyu đã kịp gửi tin nhắn giã biệt với người vợ và 2 người con của anh.

Sukiyaki có đoạn:

Khi đi tôi ngẩng mặt lên trời để nước mắt không thể rơi xuống
Nhớ về những ngày mùa xuân ấy nhưng đêm nay tôi cô đơn một mình
Khi đi tôi ngẩng mặt lên trời để đếm những ngôi sao trên kia với đôi mắt nhạt nhòa
Nhớ về những ngày mùa hè ấy nhưng đêm nay tôi cô đơn một mình

Hạnh phúc nằm trên những đám mây ấy
Hạnh phúc nằm trên bầu trời ấy
Khi đi tôi ngẩng mặt lên trời để nước mắt không thể rơi xuống
Tôi khóc khi đang đi bởi vì tối nay tôi cô đơn một mình
Nhớ về những ngày trong mùa thu nhưng đêm nay tôi cô đơn một mình
Nỗi buồn ẩn giấu trong bóng của các ngôi sao
Nỗi buồn ẩn giấu sau bóng trăng
Khi đi tôi ngẩng mặt lên trời để nước mắt không thể rơi xuống
Trái tim tôi bị bủa vây bởi nỗi buồn
Vì đêm nay tôi cô đơn một mình

Ca khúc thể hiện trái tim tan vỡ của chàng trai khi chia tay tình yêu. Ca khúc này cũng được nghệ sỹ violin Diana Yukawa chơi ở nơi cha cô mất trong cùng chuyến bay với Kyu Sakamoto, và cũng là ca khúc chủ đề rất cảm động La Campanella của album bán chạy nhất năm 2000 tại  Nhật  Bản. Gần đây nhất năm 2011, ca sỹ Susan Boyle của Anh cũng đã thể hiện ca khúc The first star trong album Someone to watch over me đã cover lại ca khúc này dưới phiên bản tiếng Anh lời mới nhẹ nhàng và được đánh giá là lời ca khúc gần nghĩa nhất phiên bản tiếng  Nhật so với các cover song khác.

Nhìn lên bầu trời có các ngôi sao đang lấp lánh
Hãy ước một điều như ngày bé bạn vẫn từng ước
Thậm chí nếu bạn có lúc không cảm động
Nhưng cũng không có nghĩa là bạn đang khóc

Nhìn lên bầu trời tìm kiếm ngôi sao đầu tiên trong đêm nay
Ngôi sao đó sẽ dẫn các ngôi sao xanh lấp lánh trắng
Thậm chí nếu bạn không tìm thấy đêm nay
Không có nghĩa là bạn đã không thử tìm

Mùa xuân sẽ đến sớm, cây cỏ chờ tốt tươi
Chiều mùa hè, tất thảy trôi đi chầm chậm

Ngước nhìn bầu trời và tìm kiếm chàng trai trên mặt trăng
đang đọc câu thần chú hay ngâm nga đung đưa trên cao
Và nếu bạn đang không được vui
Thì vẫn tiếp tục đừng bỏ cuộc
Lalala [ngâm nga]
Thậm chí nếu có lúc bạn không cảm động
Thì không có nghĩa là bạn đang khóc

Mùa thu đến đây rồi, khắp nơi đầy sắc màu lá
Mùa đông sẽ phải cúi chào với những đỉnh núi bạc
Nhìn lên bầu trời có các ngôi sao đang lấp lánh
Hãy ước một điều như ngày bé bạn vẫn từng ước
Thậm chí nếu bạn không nói gì
Điều đó vẫn luôn có nghĩa bạn đang tiếp tục ước nguyện

misora hibari

Hà Nội hôm qua mưa to gió lớn làm mình tiếc rẻ hàng loạt cây đổ bên đường. Nhìn cảnh ngập lụt như vậy mình nhớ tới tiểu luận Hà Ni hướng nào cũng sông của Hồ Anh Thái mà thấy “trên cao gió bạt tiếng eo sèo”. Đôi khi mình không hiểu ở cái tuổi 27 này thì cứ ngồi tiếc rẻ thèm nghe tiếng mưa lộp độp trên tàu lá chuối, róc rách sau nhà mà chợt hỏi không hiểu tâm hồn mình có kịp theo đuổi thời đại, hay vẫn chỉ là

…  thèm những đêm nằm nghe mưa rơi trước hiên nhà cũ,
… nghe tình ca Thái Cầm vỗ về tâm hồn lặng lẽ
… đọc sách bên ô cửa sổ mà không nặng gánh ngổn ngang công việc
… xếp giấy, vẽ hoa

Người ta bảo sống vì hiện tại và tương lai, quá khứ qua đi thì hãy để qua nhưng nếu không có những gì đã hiện hữu trong quá khứ thì không thể nối bước cho mình đến hiện tại và tương lai. Tuy nhiên hiện tại của mình vẫn chỉ là nghe những bản tình ca những năm 80, 90. Mỗi lần trước khi đi ngủ đều phải mở ca khúc “Như dòng sông chy” của Misora Hibari:

Tôi lững thững đi trên đường dài và hẹp
Ngoảnh đầu lại thấy con đường đã xa
Thậm chí không có bản đồ, tôi có thể nhìn thấy ngôi nhà của mình
với con đường gập ghềnh những khúc quanh, chỗ rẽ

Cuộc sống vẫn như…ah
như dòng chảy của sông, nhẹ nhàng
chảy qua bao nhiêu năm không biết nữa

Ah.. như dòng chảy của sông không bao giờ dừng
như bầu trời kia luôn nhuộm màu ánh sáng

Sống là để cho chúng ta đi…
đi trên những con đường chưa thấy đích
đem yêu thương lại gần hơn khi chúng ta tìm đến với ước mơ
Thậm chí khi ướt sũng trong cơn mưa
khi con đường ngập đầy bùn
nhưng ngày quang đãng rồi sẽ đến

Ah… như dòng sông vẫn chảy êm đềm
như mùa đến rồi đi, như khi đang chờ mùa xuân tan băng giá

Ah… như dòng sông vẫn chảy muôn đời
đưa tôi trôi theo dòng nước

Ah… như dòng sông vẫn chảy muôn đời
lắng nghe tiếng sóng vỗ bờ xanh

Đây là một bài hát mà mình yêu thích vô cùng. Từ khi đến với âm nhạc Nhật Bản những năm 80, 90 (thể loại kayokyuko hoặc Foku), mình rất thích Misora Hibari – nữ hoàng nhạc Enka và những bài tình ca bất hủ. Bài ca Như dòng sông chảy này đã chảy mãi từ khi Misora cất giọng hát cho đến khi bà mất đi, giọng ca ấy vẫn vỗ vễ từng đợt sóng trong tâm hồn con người yêu mến bà, yêu mến một thời đại đẹp đẽ đã qua!!!

Sawada-Kenji-Tokino-Sugi-Yuku-Mama-Ni

Kayokyoku là thể loại pop Nhật Bản và là nền tảng của nhạc J-pop hiện đại thời nay. Tạp chí Times Nhật Bản đã miêu tả Kayokyoku như nhạc pop Nhật Bản tiêu biểu hay nhạc pop thời kỳ Showa (Chiêu Hoàng). Kayokyoku là thể loại được gợi cảm hứng từ phong cách phương Tây và rất đa dạng về các hình thức. Tuy nhiên theo nghĩa hẹp hơn và trên thực tế thì thể loại này không gồm có Enka và J-pop.

Không giống các ca sỹ J-pop, người hát nhạc Kayokyoku thường không sử dụng phiên âm ngôn ngữ tiếng Anh mà chủ yếu dựa trên tiếng  Nhật truyền thống. Không giống các ca sỹ Enka, người hát Kayokyoku thường không sử dụng các lối trình diễn diễn tả cảm xúc trong khi hát.

Một số ca sỹ thể loại nhạc này gồm có Kyu Sakamoto, The Peanuts, Candies, Pink Lady, Seiko Matsuda (ca sỹ yêu thích của mình), the checkers và Onyanko Club.

Nhng năm 1920 – 1940: Ngun gc

Thuật nữ Kayokyoku có nguồn gốc chỉ các ca khúc kinh điển phương Tây ở Nhật Bản, nhưng đài NHK bắt đầu sử dụng thuật ngữ này nhưng dưới tên gọi khác là Ryukoka trong khoảng năm 1927 và kéo dài cho đến năm thứ 10 của thời kỳ Showa (1935- 1944). Tuy nhiên, nhiều ca khúc phổ biến giai đoạn này đã không còn nhớ đến bởi sự gắn liền với vết thương chiến tranh trong Thế chiến II trong lịch sử Nhật Bản.

Hiromi Ota với ca khúc còn mãi với thời gian Momen no Handerchief

T 1950 – 1960: Thi k Mood Kayo

Có nguồn gốc từ Ryukoka, Kayokyoku cũng nhằm chỉ một thể loại nhạc cổ đặc biệt của Ryukoka. Chẳng hạn như Kenji Yamamoto đã miêu tả rằng thể loại nhạc thịnh hành những năm 20 Showa (1945 – 1954) là Ryukoka và thể loại nhạc thịnh hành trong những năm 30 của thời kỳ Showa (1955 – 1964) là Kayokyoku.

Vào thời kỳ những năm 30 của thời đại Showa, ca sỹ Frank Nagai dưới sự ảnh hưởng âm nhạc Jazz đã Kayokyokutrình bày ca khúc mới gọi là Mood Kayo. Trong thời kỳ phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật Bản sau thế chiến II, Mood kayo trở thành một thể loại mới thịnh hành tại Nhật Bản lúc bấy giờ. Thể loại Mood kayo chịu sự ảnh hưởng bởi nhạc  Latin và nhạc Jazz. Bên cạnh đó, thời kỳ này thể loại Enka hiện đại bắt đầu được định hình và nhạc Rock and Roll cũng bắt đầu có sức ảnh hưởng lớn tới các ca sỹ lúc đó.

Momoe Yamaguchi – ca sỹ, diễn viên thần tượng nổi tiếng của Nhật Bản từ năm 1972 – 1980. Cô nghỉ diễn lúc đang ở đỉnh cao sự nghiệp năm 21 tuổi sau khi kết hôn với bạn diễn Tomokazu Miura

Năm 1949, Hibari Misora 12 tuổi đã trình diễn lần đầu tiên bài hát Kappa Boogie Woogie. Những năm 50 bên cạnh Misora còn có Chiemi Eri và Izumi Yukimura tạo nên bộ ba cô gái nổi tiếng (Three Girls). Hachiro Kasuga, Michiya Mihashi và Hideo Murata được gọi là Three Crows. Đầu những năm 1960 thì Kyu Sakamoto và the Peanuts bắt đầu nổi tiếng, Shinichi Mori nổi tiếng năm 1966, Linda yamamoto (1966), Group Sounds(cuối những năm 60), Teruhiko Saigo, Yukio Hashi và Kazuo Funaki (còn được gọi là Gokanse – 1960), Keiko Fuji (1969).

Trong giai đoạn này, nhiều nhóm nhạc và ca sỹ hát  thể loại Kayokyoku bắt đầu có nhiều kinh nghiệm khi biểu diễn tại các căn cứ quân sự Mỹ tại Nhật Bản.

Thi k nhng năm 70 – 80: thi k thn tượng (“idol”)

Năm 70, Hiromi Go thuộc quản lý của hàng  Johnny & Associate), Hideki Saijo và Goro Noguchi dduwwocj gọi là New Gosanke). Saori Minami, Mari Amachi và Rumiko Koyanagi được gọi là Ba cô gái mới (New Three Girls). Akiko Wada, nổi tiếng từ Cafe Jazz cũng bắt đầu nổi tiếng. Momoe Yamaguchi, Junko Sakurada và Masako Mori được gọi là Hana no Chusan Torio. Yu Aku trở thành người viết lời bài hát nổi tiếng nhất thời kỳ này.

Những năm 80, nhiều thần tượng nữ  (Female idol) như Seiko Matsuda và Akina Nakamori trở nên nổi tiếng.

Kyu Sakamoto – ca sỹ và diễn viên nổi tiếng của Nhật Bản với ca khúc Sukiyaki (Tôi ngẩng đầu để đi) đứng đầu bảng Billboard Mỹ năm 1963

Thể loại nhạc Kayokyoku từ đó được xem như nền tảng của nhạc J-pop khác. Thời kỳ này, một phần thần tượng nghệ sỹ Nhật Bản độc lập với phong cách này và hát nhạc  Rock. Cuối những năm 80, ban nhạc nổi tiếng như  Onyanko đứng bên ranh giới giữa Kayokyoku và J-pop hiện đại. Mặc dù thể loại Kayokyuku sau thời kỳ Hikaru Genji và Dream Come True được gọi là J-pop nhưng nhiều người nhận định rằng J-Pop là một nhánh của Kayokyoku.

Cuối những năm 80, thể loại Kayokyoku còn lại (ngoại trừ âm nhạc thần tượng Nhật Bản) thì được xem là Enka. Sau khi Hibari Misora qua đời năm 1989, thể loại gọi là Kayokyoku gần như biến mất và nhiều nghệ sỹ kayokyoku được xem là các nghệ sỹ hát nhạc Enka mà không có bất kỳ sự thay đổi trong âm giọng. Tuy nhiên Shinichi Mori và Kiyoshi

Maekawa vẫn xem họ là các nghệ sỹ Kayokyoku chứ không phải là nghệ sỹ Enka. Maekawa cho rằng ví dụ của nghệ sỹ Enka thực sự phải là Saburo Kitajima, người sử dụng rất nhiều Kobushi (một kỹ năng) trong khi hát.

….

Một số ca khúc thuộc thể loại Kayokyoku mà mình yêu thích

 

Chiếc khăn tay (Momen no Handekerchief) – Hiromi Ota

Romance – Hiromi Iwasaki

Orange Blossoms Blues – Momoe Yamaguchi

Sukiyaki – Kyu Sakamoto

Sabara Koibito – Masaaki Sakai

Sensei – Mori Masako

Shourou nagashi – Masami Yoshida

natsu-ga-kita - Kayokyoku

Vừa có được mấy ngày nghỉ rảnh rỗi là mình vội tìm hiểu ngay về dòng nhạc Nhật Bản yêu thích của mình. Rốt cục cũng tìm ra đó là thể loại Kayokyoku – thể loại nhạc thịnh hành trong những năm 80 và bị thay thế bởi nhạc được biết đến hiện nay là J-pop (Japanese pop). Ngày nay, ngành công nghiệp của Nhật Bản lớn mạnh thứ 2 trên thế giới, sau Hoa Kỳ. Nếu như Hoa Kỳ có bảng xếp hạng Bill Board, Hàn Quốc có Mnet, Trung Quốc có KKBox thì Nhật  Bản có xếp hạng hàng tuần Oricon. Thực ra, đã là nền công nghiệp đứng thứ 2 trên thế giới thì có lẽ mình nên xóa mù một chút, đặc biệt là hiểu hơn một chút về những bài hát mà mình nghe hoài không chán. Mặc dù thể loại nhạc Kayokyoku đã qua nhưng những giai điệu ấy vẫn còn lưu lại trong tâm hồn mình như một suối nguồn khoáng đạt.

Ci ngun c đi

Rất nhiều phong cách âm nhạc được tìm thấy ở Nhật Bản có nguồn gốc xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử Nhật Bản, trong đó ảnh hưởng đáng kể bởi nền văn hóa Trung Quốc, Hàn QUốc và Trung và Nam Á. Có bằng chứng âm nhạc cho thấy sự  du nhập như sự xuất hiện của 80 nhạc sỹ Hàn Quốc năm 453 sau Công nguyên và sự du nhập của Đạo Phật vào thế kỷ thứ 7. Gagaku – âm nhạc cung đình và nhạc tôn giáo xuất hiện từ thời kỳ này và tụng kinh (Shomyo) vẫn còn lưu truyền trong các đền ngày nay.

Giữa năm 1950 và 1868, các nhà cầm quyền Nhật Bản thực thi chính sách cô lập hoàn toàn. Các nhạc cụ truyền thống như đàn Koto (đàn tranh) và Shakuhachi tiếp tục phát triển nhưng không có sự ảnh hưởng đối với bên ngoài. Tuy nhiên, đàn shamisen (dạng đàn luýt gảy 3 dây) bắt nguồn từ Trung Quốc đã đại diện cho một phong cách mới, phản ánh sự phát triển của văn hoa thành thị tiền hiện đại

Nhc dân ca (Min’yo music)

Truyền thống dân ca Nhật Bản rất phong phú và có từ lâu, đặc trưng bởi giọng đặc trưng với đệm đàn shamisen, sáo Shakuhachi và trống. Mỗi vùng miền đều mang nét riêng và có lẽ nổi bật nhật là phong cách shamisen từ vùng Tsugaru.

Yoshida Brothers và cây đàn Shamisen

Yoshida Brothers và cây đàn Shamisen

Kể từ khi Tsugaru shamisen được biết đến thì tương lai nhạc dân ca trở nên tỏa sáng. Ban nhạc anh em Yoshida Kyodai được sự công nhận của thế giới, tiếp đến là Agatsuma và Masahiro Nitta. Truyền thống chơi trống từ đạo Sado nơi diễn ra Lễ hội Trái đất hàng năm đang được toàn thế giới biết đến.

Kayokyoku

Bước vào thế kỷ 20, thể loại nhạc cực kỳ thịnh hành là Ryukoka có nguồn gốc từ  những nghệ sỹ giải trí đường phố vùng Osaka. Cùng với sự du nhập ồ ạt của văn hóa Phương Tây, các nhà âm nhạc Nhật Bản bắt đầu bắt nhịp và chơi nhạc Jazz, Tango, Rumba, Tin Pan Alleys, Blues và Hawaiian. Từ đó, thể loại nhạc mới được định hình đó là Kayokyoku – một thuật ngữ dùng để chỉ chung cho tất cả các ca khúc thịnh hành tại Nhật Bản từ những năm 1930s và mãi đến sau Thế chiến II thì chính thức dùng thuật ngữ này. Năm 1949, Hibari Misora ca sỹ nổi tiếng nhất thời kỳ hiện đại thời bấy giờ đã lần đầu tiên trình diễn năm mới 12 tuổi. Hibari Misora – giọng ca của cô ấy như một thứ thuốc mê hoặc tâm trí tôi mỗi lần nghe, đặc biệt là bản Kawa no Nagare no Youni (Như dòng sông vẫn chảy)

Trong những năm 1950, nhạc Latin bắt đầu tràn vào và nhiều ban nhạc mang phong cách Cuba như Tokyo Cuban Boys thành lập. Trước đây ban nhạc Orquesta de la Luz đã từng rất thành công, cho đến nay phong cách này vẫn còn được duy trì với sự nổi tiếng của nghệ sỹ chơi bossa nova Lisa Ono và Ban nhạc Nettai Tropical Jazz Big Band.

Rock Nht Bn và Underground music

Những năm 1960, các ban nhạc pop Nhật Bản hát các ca khúc bằng tiếng Anh nhưng mãi đến cuối năm 60 thì một số ban nhạc rock biểu diễn ở các ga tàu điện ngầm quay trở lại hát bằng ngôn ngữ Nhật Bản. Ban nhạc đi tiên phong trong thể loại này là Happy End, chủ đề các ca khúc của họ thường nói về tình yêu và chính trị và đã tạo ra nguồn cảm hứng cho các thế hệ rocker Nhật Bản về sau này.

Nhật Bản cũng là quê hương của một số tác phẩm nhạc underground hấp dẫn. Các tay nhạc rock đi tiên phong có The Boredoms và Rovo, trong đó Rovo có một số thành viên đến từ nhóm lồng nhạc và lồng âm nhạc trở thành một thể loại khác mang dấu ấn đặc trưng của Nhật Bản (như Audio Active và Little Tempo)

Bùng n âm nhc thế gii (roots boom)

Umechiki

Umekichi – nghệ sỹ nổi tiếng với giọng hát trong trẻo cùng cây đàn Shamisen

Khi các ca sỹ thần tượng (idoru kashu) và nhà soạn nhạc thống lĩnh thị trường âm nhạc những năm 80, nhiều dòng nhạc mới bắt đầu nổi lên. Nhiều tác phẩm âm nhạc nước ngoài giữa năm 80 đã chuyển sang thể loại không thuộc Phương Tây mà thành các xu hướng trong mỗi năm như điệu Latin, Điệu raggae (điệu nhảy với nhịp mạnh phổ biến của người Tây Ấn), điệu Ska (của người Jamaica) và điệu indonesia. Vào cuối năm 80, nhiều ban nhạc như Shang shang Typhoon và nghệ sỹ vùng Okinawan và Rinken Band. Các nghệ sỹ Okinawan thường sử dụng phong cách truyền thống địa phương kết hợp với một số hình thức âm nhạc khác đã tạo nên làn sóng âm nhạc mới.

Thể loại hát bài hát dài (nagauta), bài hát ngắn (Kouta – dạng bài hát ngắn phổ biến trong thời kỳ Edo) hoặc các bài hát phổ biến thời Edo (Hauta) thường được biểu diễn bởi các Geisha và được làm mới trong những năm gần đây. Thời nay nổi lên ca sỹ trẻ Umekichi và chơi đàn Shamisen kết hợp với một số nhạc cụ phương Tây tạo nên âm hưởng vui vẻ, lạc quan hơn.

Okinawa

Nếu như bạn muốn thưởng thức sự kỳ diệu của âm nhạc Nhật Bản thì có lẽ nên đi xuống phía Nam Nhật Bản để thưởng thức tiết mục biểu diễn truyền thống trong các câu lạc bộ nhỏ hoặc trong lễ hội hàng năm Ei-sa. Bạn sẽ được thưởng thức những điệu nhảy, giọng ca ám ảnh và tất cả nhạc trống, đàn 3 dây (sanshin). Nghệ sỹ biểu diễn trong những trang phục lạ mắt chơi solo đàn sanshin cho đến các ban nhạc đường phố…

(Dch t Guide to world music)

Một trong những ca sỹ nổi tiếng thời kỳ kayokyoku là Matsuda Seiko với ca khúc Sweet Memories