Đọc vị trẻ qua nét vẽ (P1)

Bằng sự vận động tay chân, chúng ta có thể thay đổi thế giới bên ngoài và nhận thức sự thay đổi đó bằng tai, mắt và da. Đối với trẻ em, quá trình suy nghĩ sáng tạo, vẽ một cái gì đó rồi chơi say mê với nó là niềm vui tuyệt với không gì sánh bằng. Đó là một phần gắn liền với bản chất con người, một sinh vật có tính văn hoá.

Tác giả Akiyoshi Torii trong cuốn Đọc vị trẻ qua nét vẽ (thực hành) nhấn mạnh rằng tranh của trẻ em và tranh người lớn là khác nhau. Người lớn có thể chiêm ngưỡng những bức tranh hoạ sĩ hay coi vẽ tranh là sở thích nhưng trẻ thì khác, việc người lớn xem và đánh giá bức tranh của trẻ theo quan điêm cách nhìn như tranh do người lớn vẽ là hoàn toàn không nên.

Lịch sử nhân loại đã đạt được bước tiến vĩ đại khi chuyển từ người nguyên thuỷ sang người văn minh. Cũng như vây, chỉ cần một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng 3-4 năm kể từ lúc sinh ra, trẻ em có sự phát triển đáng kinh ngạc. Dấu vết đó có thể nhìn thấy qua bức vẽ của trẻ. Giống như loài khỉ, trẻ bắt đầu với những nét vẽ nguệch ngoạc như đường thằng, hình tròn, sau đó trẻ có thể vẽ bức tranh có ý nghĩa về mặt nội dung. Dần dẫn mở rộng vốn từ vựng thì trẻ có thể vẽ bằng sự tưởng tượng. Do đó, người lớn cần có phương pháp phù hợp để trẻ vẽ tranh đúng tuổi, không nên dạy trẻ vẽ theo hình mẫu, đừng quá chú ý đến màu sắc hình dạng trong tranh trẻ để suy đoán tính cách, hãy để trẻ được lấm bẩn. Vẽ tranh là dùng bút chì hoặc một dụng cụ nào đó để làm bẩn giấy vẽ màu trắng, làm bẩn tóc, quần áo, mặt mũi. Những bà mẹ có thói quen sạch sẽ, trong lúc nuôi dạy trẻ nếu trẻ nghịch ngơm, lấm bẩn thì cũng đừng cảm thấy bế tắc mà hãy nhắm mắt làm ngơ.

Hãy dạy trẻ chơi với nước và cát. Nước và cát là đồ chơi quan trọng nhất với giai đoạn ấu thơ và hãy tạo ra những kỷ niệm vui cho bé.

Giai đoạn 1 tuổi:

Đối với trẻ 1 tuổi, vẽ tranh là dấu vết của sự cử động bàn tay, nó không phải là hoạt động tinh thần mà là kết quả sơ khai của đôi tay. TRẻ cố gắng xoay, đánh, đẩy, thả uốn cong các đồ chơi tiếp xúc, xu hướng ấn, chọ trên giấy

Tầm 1 tuổi rưỡi, do chuyển động qua lại của bàn tay, nét vẽ của trẻ giai đoạn này rất nguệch ngoạc. Với trục là khuyủ tay, bàn tay di chuyển sang trái, phải thành hình cầu vồng hoặc bán nguyệt.

Sau 1 tuổi rưỡi, từ vòng tròn lớn nguệch ngoạc, trẻ vẽ những vòng tròn nhỏ, vòng tròn đã khép lại, cử động bàn tay đã có thay đổi.

Trong giai đoạn này cần chú ý hãy đưa cho trẻ bất kỳ màu sắc nào, hãy cho trẻ màu nào trẻ thích, bút chì đậm, mặt sau tờ lịch để cho trẻ nghịch. Hãy để trẻ tự do sáng tạo những nét vẽ nguệch ngoạc của mình, đừng dạy trẻ theo hình mẫu, dạy chữ.

Giai đoạn 2 tuổi

Giai đoạn này cử động của tay có sự dõi theo của mắt, trẻ có thể dùng ngôn từ đơn giản để vẽ tranh, trẻ có thể cầm nhón được. Lúc này trẻ có thể vừa chú ý bằng mắt, vừa vẽ đường thẳng bằng bút chì màu, vẽ vòng tròn khép lại. Khi trẻ khoảng 2 tuổi 2 tháng đến 2 tuổi 4 tháng trẻ vẽ duy nhất một loại nét vẽ, một đường khởi đầu và kết thúc. Hoặc vẽ ngược lại về nơ bát đầu nét vẽ. Việc đóng vòng tròn là hoạt động không chỉ của tay mà còn của mắt.

Trẻ 2,5 tuổi có thể bắt đầu gắn ý nghĩa vào tranh, manh nha xuất hiện trẻ muốn làm gì. Trẻ càng giàu trí tưởng tượng thì càng có khả năng gán nhiều ý nghĩa khác nhau vào một đường tròn duy nhất. Tuy nhiên giai đoạn này trẻ vẫn chưa thể vẽ những hình như khuôn mặt, không thể vẽ giống những vật mà trẻ được cho xem. Do đó đừng bắt trẻ phải vẽ theo hình mẫu.

Giai đoạn 3 tuổi:

Trẻ vẽ và gắn ý nghĩa cho tranh ngay từ khi bắt đầu vẽ và có sự thay đổi trong tranh vẽ con người. Người lớn vẫn chưa nên dạy trẻ những kiểu hình mẫu như búp bê, xe hơi, khuôn mặt. Hãy hỏi và lắng nghe nội dung các bức vẽ tranh với rất nhiều vòng tròn và đường kẻ của trẻ.

Giai đoạn này tay trẻ cử động theo những gì mình định vẽ nhưng chất lượng các ý nghĩ gắn cho sẽ có sự thay đổi. Ví dụ khi 2 tuổi trẻ nói “Đó là bánh Dango” và người lớn phủ nhận “không phải bánh Dango, có lẽ là bánh bao” có thể trẻ sẽ phản ứng nói lại là “nói dối, không đúng”. Tuy nhiên đến 3 tuổi nếu ngay tự đầu trẻ muốn vẽ bánh Dango nhưng bị mẹ nói là bánh mì thì trẻ sẽ cảm thấy chán nản.

Sau 3 tuổi rưỡi, trẻ trò chuyện bằng rất nhiều kiểu vẽ hình tròn. Trẻ ở lứa tuổi này thường thích chơi đóng vai như bác sỹ, siêu nhân, bà nội trợ. Lúc này trẻ sẽ tràn đầy tự tin “mình có thể làm được” và đây là giai đoạn phạm trù đối lập như lớn nhỏ, bản thân và ngừoi khác cũng sẽ thay đổi. Trẻ sẽ ám chỉ vòng tròn này là bố, vòng này là mẹ, vòng này là ngôi nhà, to nhỏ khác nhau. Do đó, đây là mầm mống việc sử dụng tranh như một phương thức biểu hiện mà những loại động vật không thể bắt chước được. Những bức tranh ở độ tuổi này mang tính tượng trưng, gọi là “chủ nghĩa tượng trưng”. Bố mẹ đừng chỉ ra lỗi sai một cách gay gắt hoặc bắt trẻ ghi nhớ chẳng hạn không vẽ tai, tay chân…Hãy toàn tâm lắng nghe nội dung bức vẽ của trẻ và hài lòng với tiến bộ trẻ đạt được.

Giai đoạn 4 tuổi

Cuối cùng trẻ có thể vẽ được hình dạng, trẻ bắt đầu vẽ bằng sự tưởng tượng. Các bộ phận vẽ người bắt đầu xuất hiện và trẻ chỉ vẽ những bức tranh sắp xếp đồ vật một cách vô trật tự, kiểu liệt kê. Tuy nhiên sự thay đổi trong việc vẽ bộ phận con người từ phần đầu sau đó đến chân, rồi cả hai chân thể hiện quá trình phát triển khả năng nhận thức của trẻ. Trong giai đoạn này ép trẻ vẽ thứ này thứ khác sẽ làm mất niềm vui được tìm hiểu và nhận thức cảu trẻ, gây tác động xấu đến nhận thức các sự vật.

Khi 4 tuổi, trẻ có thể vẽ theo chủ đề được gợi ý như “con muốn vẽ bố không?” hay “Con định vẽ mẹ à”, dù vật không ở trước mắt nhưng trẻ có thể vẽ bằng những hình dung trong đầu. Trẻ có ấn tượng mạnh mẽ với chi tiết gì thì sẽ vẽ chi tiết đó to lên.

Sau 4,5 tuổi những bức tranh rời rạc giống như liệt kê hình vẽ. Các bức vẽ lặp đi lặp lại hoặc đơn giản kiểu liệt kê. Bố mẹ hãy thử lắng nghe một cách cẩn thận câu chuyện của trẻ có thể sẽ kết nối được suy nghĩ trẻ.

Giai đoạn 5 tuổi

Thay vì vẽ theo những gì đã thấy, đã trải nghiệm, trẻ chỉ vẽ những gì mình quan tâm trong giai đoạn này. Tranh vẽ bắt đầu xuất hiện đường cơ sở gắn trật tự cho mọi sự vật, hiện tượng. Trẻ có thể vẽ tranh bằng cách tưởng tượng các câu chuyện đã được nghe. Bố mẹ hãy hỏi về các mối quan hệ trong tranh, đừng nói với trẻ “hình vẽ này trông buồn cười thế”.

Giai đoạn này trẻ có thể nắm bắt được những đặc trưng và hình dạng của vật. Ở 4 tuổi trẻ có thể phân biệt rõ tính câhts hoặc hình dạng của sự vật, hiện tượng. Tre có thể hiểu đó là con chó, chim bồ câu những không nhận thức được mối quan hệ giữa những gì mình muốn vẽ, biểu hiện của trẻ chỉ vẽ những thứ mình ấn tượng. HÌnh ảnh người mặc quần áo, tranh phục chưa thuộc ấn tượng của trẻ. Lên 5 tuổi trẻ hiêu rõ hơn bản chất vốn có của sự vật, tuy chưa thể vẽ chính xác mối quan hệ sự vật hiện tượng nên vẽ tuỳ hứng. Có thể nói đặc trưng nổi bật trong tranh vẽ trẻ từ 4-8 tuổi là vẽ theo những thứ mình thích, không theo những gì mình thấy. Tác giả Akiiyoshi Torii goi đó là “chủ nghĩa hiện thực có tính trí tuệ”.

Sau 5 tuổi rưỡi đến gần 6 tuổi, trẻ quan tâm đến mối quan hệ các sự vật hơn, tranh vẽ bắt đầu có đường cơ sở, tính 2 chiều nên dù đó là nhà hay biển thì chúng ta có thể nhìn thấy được. Đây gọi là phương pháp vẽ xuyên thấu. Do đó từ 2,5 đến 5 tuổi thì tốt nhất chúng ta nên hỏi “Đang làm gì, ai thế, đây là ở đâu” ngoài ra bố mẹ nên tạo điều kiện để đời sống trẻ phong phú hơn. Giai đoạn này trẻ cũng thích tô màu, do đó hãy cho trẻ bút chì đen và bộ bút chì màu.

Giai đoạn 6 tuổi

Trẻ sử dụng đường cơ sở để phân rõ giới hạn sự vật, tách moi vật theo trật tự không gian và bé có thể hoàn thành bức vẽ mô phỏng mặc dù bé chưa nhìn thấy bao giờ. Năng lực trừu tượng hoá, mô phỏng hoá sự vật, sự việc như thế này cũng là nền tảng cho việc viết văn sau này của trẻ. Tuyệt đối đừng bắt trẻ vẽ theo những gì mẹ nói.

Giai đoạn 7 – 8 tuổi

Đường cơ sở sẽ thay đổi, là đường ngang hoặc đường chân trời. Hình ảnh con người được vẽ theo sự phân chia 3 góc độ: phía trước, bên cạnh và phía sau. Giai đoạn này bức vẽ của trẻ trở nên cóys nghĩa khi có người xem nên bố mẹ hãy để ý đến nỗi lòng của trẻ và cẩn thận hơn khi xem tranh.

Giai đoạn này trẻ có thể vẽ cử động của người theo hướng từ bên cạnh.

Giai đoạn 9 tuổi

Trẻ có thể vẽ được những bức tranh như những gì mình đã thấy. Niềm say mê của trẻ sẽ trở thành sức mạnh to lớn để trẻ phát triển khả năng vẽ phác hoạ. Khi đó người lớn không cần làm những việc vô ích như ra tay can thiệp hoặc nói xen vào. Từ 9 tuổi thì bức tranh của trẻ đã là bức tranh của người lớn bởi sự thay đổi rõ trong cách vẽ. Từ 4-8 tuổi tranh vẽ ở giai đoạn “chủ nghĩa hiện thực trí tuệ” vẽ như những gì mình biết thì từ tuổi tranh của trẻ sẽ có khuynh hướng thay đổi giống như người lớn goi là “Chủ nghĩa hiện thực thị giác” như nhà nghiên cứu người Pháp Georges Henri Luquet đã nói.

Để nuôi dưỡng con người, đặc biệt là trẻ em những hoạt động có tính chất “gặp gỡ” tiếp xúc đầu tiên như vẽ tranh là điều cần thiết. Nhờ ngôn ngữ tượng hình cúa những hoạt động tạo hình làm ra một vật gì đó hoặc vẽ tranh mà năng lực tưởng tượng, phán đoán, suy nghĩ của trẻ được rèn luyện, góp phần hoàn thiện con người thông minh.

Tóm tắt nội dung Đọc vị trẻ qua nét vẽ (Lý thuyết và thực hành) của tác giả Akiyoshi Torii, 2016 dịch giả Hồ Phương, NXB Lao động, ThaiHa books

Đọc vị trẻ qua nét vẽ của tác giả Akiyoshi Torii là cuốn sách hiếm hoi viết về vấn đề giáo dục nghệ thuật vẽ tranh cho trẻ em được dịch sang Tiếng Việt. Nếu bất kỳ bố mẹ nào đọc qua cuốn sách này thì chắc hẳn sẽ có cái nhìn thấu hiểu và tôn trọng sự phát triển của bé qua những bức tranh bé vẽ và cũng sẽ thay đổi suy nghĩ và cách tiếp cận về việc cho bé học vẽ tranh theo đúng độ tuổi.

Trong cuộc đời của một con người, giai đoạn mẫu giáo hay giai đoạn thiếu niên chính là thời kỳ mà khả năng sáng tạo phát triển mạnh mẽ nhất. Tác giả gọi đó là thời kỳ thích ứng với nghệ thuật. Trẻ con mỗi ngày đều sống trong vui vẻ, đầy tính sáng tạo và tình cảm nên hoàn toàn thoải mái, tự do trong việc thực hiện hoạt động nghệ thuật. Chính vì vậy, nếu chẳng may do cách giáo dục mà những em ở lứa tuổi mẫu giáo không thể vẽ tranh thì khả năng nghệ thuật của các em không thể khai hoa nở nhụy ngay trong giai đoạn quý giá này. Cuốn sách cũng đã làm rõ các vấn đề phụ huynh thường mắc phải liên quan đến vấn đề dạy nghệ thuật cho bé và phân tích đặc trưng trong tranh vẽ của trẻ ở độ tuổi ấu thơ (từ 1 tuổi đến 9 tuổi).

Có những đặc điểm khác nhau giữa tranh người lớn và tranh trẻ con và cách tiếp cận để giúp trẻ vẽ tranh được tác giả mô tả như sau:

  1. Tranh của lứa tuổi nhi đồng thuộc kiểu “tranh phải hỏi thì mới hiểu được ý nghĩa“. Nhà tâm lý Piaget đã từng nói đặc trưng trong cách suy nghĩ của trẻ ở thời kỳ mẫu giáo chính là tính duy kỷ. Khi vẽ tranh, trẻ không hề quan tâm người xem muốn gì, suy nghĩ gì, chỉ đơn giản là thoả mãn bản thân. Giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, việc trẻ vẽ tranh sẽ kéo theo sự hoạt động của tai và mắt, do đó chỉ bao gồm nét vẽ nguệch ngoạc, không hiểu trẻ vẽ gì. Từ 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi, trẻ có thể vận dụng đa dạng ngôn từ, đồng thời biết cách thể hiện được hình dáng của sự vật hiện tượng. Tuy nhiên khác với người lớn, trẻ giai đoạn này sẽ không vẽ lại đúng như những gì mình thấy mà vẽ theo cách hiểu của mình một cách tượng trưng. Chỉ khi trẻ 9 đến 10 tuổi thì trẻ mới ó nhận thức giống như người lớn về không gian Euclide. Do đó tranh của trẻ độ tuổi này là để hỏi hơn là ngắm.
  2. Vẽ tranh đối với trẻ không đơn giản chỉ là sở thích: đối với người lớn thì vẽ thuộc phạm trù sở thích tuy nhiên đối với trẻ con thì vẽ tranh không chỉ đơn giản là sở thích mà đó là một nội dung học tập cần phải có trong quá trình phát triển.
  3. Vẽ tranh là một hình thức lao động cần thiết trong quá trình phát triển của trẻ em.
  4. Trẻ mẫu giáo thể hiện qua tranh vẽ chứ chưa biết thể hiện bằng chữ viết. Người lớn có nhiều cách để thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nhưng đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo tranh vẽ là cách thể hiện duy nhất để ghi lại tình cảm và suy nghĩ bên trong của một đứa trẻ
  5. Tính cách của trẻ được phản ánh qua tranh vẽ: Trẻ mẫu giáo thường say mê chơi trò vẽ tranh hàng ngày, sự miệt mài đó giống như một nghệ sỹ thực thụ vậy. Tuy nhiên tranh của người lớn chứa đựng trách nhiệm phải đáp ứng nhu cầu xã hội, không đáp ứng được sẽ không thế bán được. Ngược lại tranh của trẻ em luôn giữ được nét trong sáng thuần tuý cái gọi là “nghệ thuật chơi với cái đẹp” đơn giản là chúng vẽ tranh từ niềm vui, duy trì sự tự do của bản thân, giải phóng mình khỏi những tính toán. Do đó việc bóp méo tranh của trẻ em sẽ gây ảnh hưởng to lớn, thậm chí là bóp méo sự phát triển về mặt tính cách của chúng.
  6. Không nên đánh giá tranh của trẻ vẽ xấu hay đẹp, giống hay là không giống. Người lớn càng không nên cố gắng phân tích nét vẽ, màu sắc tầm tuổi này của bé để đánh giá tính cách của một đứa trẻ. Điều đó trở nên vô nghĩa bởi vì các bức tranh nguệch ngoạc của trẻ cũng giống như tâm trạng lúc khóc lúc cười mà trẻ muốn thể hiện. Vẽ tranh cho phép trẻ thoả mãn được việc thể hiện cảm xúc niềm vui được biểu hiện của trẻ.
  7. Bố mẹ cần hiểu rằng mỗi đứa trẻ đều có thể vẽ bởi vẽ là một khả năng tự nhiên của trẻ cần được thể hiện hay khám phá trong quá trình phát triển. Khả năng vẽ của trẻ sẽ phát triển tương ứng với từng độ tuổi do đó điều người lớn cần làm là tạo ra một môi trường cho trẻ có khả năng khám phá, biểu hiện nó một cách tự nhiên, thích thú nhất, không làm phiền hay bắt trẻ phải theo cách vẽ của người lớn
  8. Tuổi thích hợp nhất để vẽ tranh màu là sau 6 tuổi bởi vì lúc đó trẻ đã có khái niệm về hình không gian. Trước đó đừng dạy trẻ vẽ hình mẫu, các phương pháp vẽ, kỹ thuật vẽ bởi đứa trẻ sẽ không thể vẽ được bức tranh thể hiện đúng với sự phát triển về tâm lý và vận động của chúng.
Tranh của người lớn – những bức tranh mẫu mà người lớn muốn dạy cho trẻ

Ngày nay, do phải chạy đua theo một nền giáo dục ăn xổi, ở thì nên phần lớn các bà mẹ đều vô tình mắc phải những lối mòn tư duy khi dạy con vẽ tranh, không ít người mang suy nghĩ sai lầm rằng giáo dục nghệ thuật là dạy cho trẻ em cách vẽ tranh người lớn. Các bố mẹ thường có tâm lý muốn con mình có thể nhanh chóng vẽ được những bức tranh hoa lá, chim cá, ô tô để không tự ti, xấu hổ trước “con nhà người ta”, đặt kỳ vọng quá cao về năng lực vẽ tranh của trẻ. Để đạt được mục đích đó, người lớn bắt đầu dạy, hay đúng hơn là ngồi nhét cho trẻ những kỹ thuật vẽ tranh và hoàn toàn quên đi các bổ trợ khác như năng lực vận động, khả năng ngôn ngữ, cảm xúc hay tính xã hội. Lối mòn trong tư duy giáo dục này còn lan rộng sang quá trình giáo dục các năng lực khác như tiếng Anh, toán học. Thực tế không ít bà mẹ bỏ tiền mua sách vở, dụng cụ học tập về ép con học ngay ừ thủa lên 3. Điều này chẳng mang lại lợi ích gì ngoài việc tạo cho đứa trẻ những rối loạn thần kinh chức năng, cô đơn lạc lõng ngay trong chính gia đình mình. Do đó, bố mẹ cần nắm rõ các giai đoạn phát triển, thay đổi quan điểm giáo dục của mình để nâng cao kỹ năng một cách đồng đều và tương trợ nhau.

Xem phần ghi chú Đọc vị trẻ qua nét vẽ (P2) về các giai đoạn phát triển vẽ tranh của trẻ

50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford (Phần 2)

Giáo dục là món quà đẹp nhất mà bố mẹ dành tặng cho con cái

~ Trần Mỹ Linh~ Ca sỹ, nhà văn viết tuỳ bút, tiến sỹ giáo dục học

Trần Mỹ Linh – 陈美龄

Trần Mỹ Linh sinh năm 1955 tại Hồng Công, cô là một ca sỹ nổi tiếng khắp Hồng Công, Đài Loan, Đông Nam Á những năm 60 và những năm 70 cô ra mắt tại Nhật Bản với ca khúc “Hoa ngu mỹ nhân”. Trần Mỹ Linh theo học chuyên ngành quốc tế học đại học Sophia Nhật Bản, tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý trẻ em đại học Toronto Canada và năm 1993 cô dành được danh hiệu tiến sỹ giáo dục học của Đại Học Stanford. Năm 2015, nối tiếp anh cả, anh hai, con trai thứ 3 của cô cũng được nhận vào trường đại học Stanford và trở thành đề tài bàn luận sôi nổi thời bấy giờ. Trong cuốn sách “50 bài học giáo dục từ người mẹ có ba con trai theo học Stanford”, Trần Mỹ Linh đã ghi chép lại 8 giác ngộ khi là phụ huynh, 11 mục tiêu giáo dục, 15 loại sức mạnh muón tặng cho con, 9 phương pháp bồi dưỡng đứa trẻ hiếu học và 6 gợi ý ứng phó với con trẻ trong thời kỳ dậy thì. Đây cũng là đúc rút kinh nghiệm, quan điểm sống của Trần Mỹ Linh khi cô từ bỏ con đường nghệ thuật ca sỹ thần tượng của mình vào những năm 70 – 80 và tham gia nhiều hoạt động từ thiện, giáo dục.

1. Phụ huynh chịu tất cả trách nhiệm giáo dục. Việc hình thành nhân cách không thể cứ vứt cho nhà trường rồi không quan tâm nữa. Trường học và giáo viên chỉ là người hỗ trợ quan trong trong việc giáo dục con cái. Cấp một, cấp hai dạy đọc viết, tính toán, cấp ba dạy đại học dạy kiến thức chuyên nghiệp cần thiết trong xã hội nhưng cách sống, quan điểm của giáo viên và cách nhìn nhận sự vật, sự việc chưa chắc đã hoàn toàn đúng đắn.

2. Không khiển trách, thử khen ngợi một cách phù hợp. Nếu chúng ta cứ bám lấy lỗi sai của con không tha chỉ khiến con hình thành thói xấu mà thôi. “Để trẻ lớn lên trong những lời khen ngợi” nhưng điều này không có nghĩa chuyện gì cũng cần khen. Quan trọng là cách khen phải phù hợp và khi khen thì không được nói dối. Rõ ràng là chữ viết không đẹp nhưng lại nói với trẻ là “con viết đẹp quá” như thế trẻ sẽ không đánh giá chính xác được bản thân. Cách khen như vậy không có lợi gì cho trẻ cả, chi bằng cứ cổ vũ động viên cho đến khi trẻ thấy thật sự tiến bộ mới khen ngợi hết lời. Câu khen ngợi thường xuyên nhất mà tôi sử dụng “Con có thể là chính mình, mẹ thực sự rất cảm ơn”.

Trần Mỹ Linh

3. Công việc của trẻ con là mơ mộng, giáo dục chính là dạy trẻ mơ như thế nào. Bố mẹ hãy hi vọng con có những giấc mơ vĩ đại mà cha mẹ không dám mơ. Chính vì các con có ước mơ, người lớn vì muốn ủng hộ chúng sẽ phải cố gắng hơn, như vậy sẽ mang tới nhiều sức sống cho xã hôi. Ngược lại nếu trẻ không chiu mơ nữa, xã hội sẽ trì trệ không tiến lên, tiến trình phát triển của nhân loại cũng sẽ ngừng lại. Hãy nói cho con biết thế giới này có rất nhiều khả năng, cho con những công cụ và tri thức cần thiết để thực hiện giấc mơ, giúp con có dũng khí để tiến lên phía trước, dạy dù khó khăn cũng phải đứng lên lạm lại, có đạt được mục tiêu cũng phải khiêm tốn, khoe khoang.

4. Đừng so sánh con với người khác. Mục tiêu đầu tiên của giáo dục là tự khẳng định mình bởi vì nội tâm tự công nhân được bản thân chính là cơ sở để hình thành nhân cách. Ngay cả bản thân mình cũng không thích thì không thể nào thích người khác được. Không so sánh với người khác thực ra chính là công nhận dáng vẻ chân thực nhất của trẻ. Bất kể trẻ có học tập tốt hay không, khả năng vận động mạnh hay không đều không có vấn đề gì. Không phải con làm được là con ngoan mà có cố gắng chính là con ngoan. Đối với trẻ mà nói, phần thưởng tốt nhất chính là sự yêu thương quan tâm từ những người xung quanh.

5. Những đứa trẻ có trái tim rộng mở sẽ biết nghĩ thay cho người khác, coi trọng bản thân. Những đứa trẻ không có trái tim rộng mở sẽ có lòng đố kị, kì thị người khác. Muốn dạy dỗ trẻ trở thành người biết nghĩ cho người khác, yêu thương người khác, nội tâm cần phong phú và rộng mở, chắc chắn không thể thiếu được giáo dục lòng tự tôn cho trẻ.

6. Đừng lãng phí khả năng tiềm tàng của trẻ. Bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra đều có sở trường của mình. Vậy tại sao có một số người có thể phát triển được tài năng của mình, có một số người cả đời chẳng có lấy một cơ hội phát triển. Sự khác biệt trong đó chính là ở chỗ có khả năng tự khẳng định mình hay không. Đứa trẻ có thể tự khẳng định mình sẽ ngây thơ thể hiện sở trường của mình. Như vậy người xung quanh dễ dàng phát hiện ra tài năng cua chúng và sẽ có cơ hội phát triển tiềm năng. Mặt khác một đứa trẻ mất đi sự tự tin sẽ không muốn thể hiện sở trường của mình ra ngoài bởi chúng lo lắng “Nếu mình nói ra câu này ra liệu có bị cười chê hay không?” và dần dần sẽ quên mất ưu điểm của mình. Hãy nói với trẻ “Nói ra suy nghĩ của con xem nào” để trẻ tích cực, tự do thể hiện bản thân, thể hiện ưu điểm của mình ra.

7. Dạy trẻ cảm nhận được hành vi của mình giúp đỡ được người khác thì có thể phục hồi khả năng tự khẳng định mình. Phần lớn trẻ nhỏ có được sự tự tin thông qua tình yêu thương nhận được từ cha mẹ. Nếu những đứa trẻ không có năng lực tự khẳng định mình kém, không tự tin, hãy để chún tạm quên đi bản thân, tìm những việc khiến chúng “quên mình”, Ví dụ nhặt rác xung quanh nhà, chủ động nói chuyện với những đứa trẻ bị bắt ntj ở trường, giúp người già đi lại khó khăn xách đồ,…những việc nhỏ hơn nữa cũng không sao, khuyên lũ trẻ hành động vì người khác. Cứ như vậy giúp trẻ khôi phục được năng lực tự khẳng định mình. Lấy lại sự tự tin, trưởng thành của trẻ sẽ hướng về một tương lai tươi sáng.

8. Giúp trẻ có trái tim biết ơn, nếu không có trái tim biết ơn “nhờ phước của bạn” bất kể có bao nhiêu tiền vẫn là người nghèo. Bất kể có người bao nhiêu ngươi vây quanh vẫn là người cô đơn.

9. Tình yêu, tình bạn, sự ấm áp và hồi ức mà tiền bạc không mua được có thể làm phong phú cuộc đời của bạn. Nhắc tới giáo dục tiền bạc cho con cái thường là nói cho trẻ biết tầm quan trọng của tiền bạc. Ví dụ dạy chúng dự trù xong hẵng mua đồ, đưa thẳng tiền tiêu vặt cho chúng để chúng suy nghĩ xem sử dụng như thế nào. Còn tôi thì không dạy con dùng tiền để mua sắm mà bắt đầu dạy từ những thứ tiền không mua được. Tiền mặc dù rất quan trọng nhưng quá dựa dẫm vào tiền bạc sẽ bị tiền bạc khống chế. Nhiều người đều vì tiền mà mất đi thứ quan trọng nhất của cuộc đời. Do dậy đầu tiên tôi dạy hai đạo lý như thế này “cho dù không có tiền, vẫn còn rất nhiều niềm vui khác”, “còn có nhiều thứ khác quan trọng hơn tiền”.

Trần Mỹ Linh

10. Có dũng khí để “khác biệt”: khác biệt với mọi người thực ra là một quà trời ban. Xã hội cần những nhân tài có thể tự do thể hiện mình. Trong xã hội Nhật Bản có một trào lưu thế này, cho rằng trình độ bình quân là thoả đáng nhất”. Quá nổi bật sẽ thu hút ánh mắt người khác, nhìn có vẻ rất tự mãn. Có lẽ các bạn nhỏ cũng ý thực được nên đã tự phòng bị mình và cho rằng ngoan ngoãn không nổi bật là tốt nhất. Những tư tưởng cũ kĩ này đã lỗi thời rồi. Thời đại sau này muốn tìm kiếm những tư tưởng khác biệt. Thế giới này luôn kỳ vọng những sự hoàn toàn mới được sản sinh, thứ mà thế giớí này cần là những nhân tài có thể thông qua việc tự do tưởng tượng và biểu đạt để sáng tạo ra trào lưu mới khác biệt. Muốn như vậy thì điều quan trọng là không sợ ánh mắt của người khác. Giải phóng nội tâm của bản thân. Nếu một người không có sự tự tin thì không thể làm được điều này. Tôi không hi vọng con mình trở thành một con người dễ dàng hùa theo người khác để người khác thích mình, bẻ cong ý kiến của bản thân mà thoả hiệp.

11. Không sợ thất bại. Thất bại chắc chắn không phải là việc xấu. Sợ thất bại không dám hành động mới là việc xấu nhất. Cho dù thất bại, cứ coi nó là một bước phải trải qua trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo là được. Thất bại không phải là chuyện xấu, sợ thật bại không dám hành động mới là chuyện đáng sợ nhất. Những người hài lòng với hiện tại mà ngừng lại không tiến về phía trước, nếu những người xung quanh đều đang tiến lên, có nghĩa là bản thân mình đang thụt lùi. Thời đại luôn tiến về phía trước, con người cần phải hành động. Nếu chỉ có bạn dừng lại không tiến lên, bạn sẽ mất đi tất cả.

12. Lựa chọn con đường khó đi nhất. Luôn giữ vững tinh thần hướng về phía trước của người thách thực là điều kiện để trở thành nhân tài mang tính toàn cầu. “Lúc hoang mang hãy chọn con đường khó đi nhất” đó là lời dạy của cha tôi để lại. Ví dụ khi vẫn còn bài tập chưa làm xong nhưng muốn xem tivi, vậy cái nào khó hơn. Đương nhiên là bài tập. Nghĩ như vậy sẽ không hoang mang , làm bài tập xong rồi xem ti vi. Ví dụ nữa “mục tiêu là thi đỗ Stanford hay một trường đại học bất kỳ nào đó”, khi các con mơ hồ về chuyện này thì Stanford khó hơn, do vậy đã chọn Stanford làm mục tiêu. Cứ như vậy, chọn con đường khó nhất thì chúng ta buộc phải cố gắng nhiều hơn, nhưng nhìn vào kết quả thì có thể nâng cao bản thân mình. Khi đưa ra lựa chọn quan trọng, hãy luôn chọn con đường khó đi nhất.

13. Biết báo ơn, con người luôn chăm sóc lẫn nhau giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Việc giáo huấn của Nhật Bản “không gây phiền phức cho người khác” đôi khi cũng mang lại một số sai lầm cho trẻ. Trên thực tế con người bắt đầu từ khi sinh ra đã chăm sóc lẫn nhau mà sinh tồn. Con người luôn sống trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, thấu hiểu và tha thứ cho nhau. Do vậy, hãy dạy trẻ phải luôn báo đáp người xung quanh.

14. Có 15 loại sức mạnh muốn tặng con đó là: Trí lực; khả năng đọc hiểu; khả năng tập trung; khả năng tưởng tượng; khả năng thấu hiểu xuyên quốc gia; khả năng học tập; có sức khoẻ tốt; khả năng phán đoán; khả năng đặt câu hỏi; khả năng lắng nghe và trình bày ý kiến; khả năng cảm nhận quan sát; khả năng cười; khả năng kiềm chế; khả năng tuỳ cơ ứng biện; khả năng nghi vấn.

Nguồn trích: 50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford – Tác giả: Trần Mỹ Linh, dịch giả: Thuý Trang, NXB Phụ nữ, Công ty văn hoá Pingbooks, 2018

Hoa cẩm chướng trong mưa – 1979 – Trần Mỹ Linh