Jean Piaget

Jean Piaget sinh năm 1896 tại Thuỵ Sĩ, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã đóng góp hơn 60 cuốn sách và hàng trăm bài báo vào kho thành tựu. Mặc dù Piaget thường được nhắc đến với tư cách là nhà tâm lý học, nhưng thực tế ông là một nhà nhận thức luận – nghiên cứu về bản chất và khởi nguồn của sự nghiệp. Trong khi những người khác băn khoăn rằng trẻ biết điều gì (what) và khi nào (when) thì Piaget hỏi làm thế nào (how) trẻ đạt được những gì chúng biết. Những nghiên cứu của ông tập trung nhiều vào qúa trình tư duy.

Những người cùng thời với Piaget cho rằng quá trình học hoặc là mang tính nội tại (Đến từ đứa trẻ) hoặc mang tính ngoại tại (tạo nên bởi môi trường hoặc được ngừoi lớn dạy) thì Piaget nghĩ rằng không riêng một mệnh đề nào có thể giải thích được quá trình học. Thay vì thế ông cho rằng tương tác của trẻ với môi trường chính là những yếu tố tạo nên quá trình học. Ông cho rằng trẻ kiến tạo sự hiểu biết của mình bằng cách gán định nghĩa cho những con người, nơi chống và những sự vật trong thế giới của chúng.

Trẻ học tốt nhất khi tự mình làm việc một cách thực sự và kiến tạo nên sự hiểu biết của riêng mình về những gì đang diễn ra thay vì nhận lấy những cách diễn giải mà người lớn đưa ra.

Piaget tin rằng trẻ cần mọi cơ hội có thể để được tự mình làm mọi việc. Ví dụ trẻ có thể rất quan tâm tới việc vật đã phát triển như thế nào. Nếu giáo viên đọc cho trẻ nghe một cuốn sách minh hoạ về chủ đề đó, trẻ có thể tăng được kiến thức nền tảng. Nhưng nếu trẻ có cơ hội được trông một vườn cây thực sự tại trường thì quá trình đào xới tưới tắm, quan sát và trải nghiệm sự lớn lên của cây cối sẽ giúp trẻ kiến tạo nên sự hiểu biết về quá trình phát triển của sự vataj, những thứ mà các em không thể có được nếu cỉ dọc và nhìn vào những bức tranh minh hoạ.

Piaget cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của trò chơi như là con đường chính để học tập. Khi trẻ tham dự vào một trò chơi biểu trừng (làm bánh từ cát, sử dụng vòi nước tưới cây để làm lính chữa cháy), chúng sẽ gán ý nghĩa cho những đồ vật và cho các hoạt động xung quanh chúng. Khi chúng mô phỏng theo những gì diễn ra xung quanh, chúng bắt đầu hiểu mọi thứ vận hành như thế nào và để làm gì. Mới bắt đầu đây là quá trình thử và sai. Tuy nhiên theo thời gian và sự lặp lại, trẻ sẽ sử dụng thông tin mới để tăng cường sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh.

Theo Piaget, sự phát triển nhận thức của trẻ trải qua những 4 giai đoạn sau

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

1. Giai đoạn cảm giác vận động (Sensorimotor) của Piaget: từ khi sinh cho đến 2 tuổi

Piaget cho rằng ban đầu phản ứng của trẻ đối với thế giới chỉ thuần tuý mang tính phản xạ (không có tư duy), trí tuệ bắt đầu khi các phản ứng trở nên có mục đích hơn. Trong suốt thời gian này, trẻ dựa vào các giác quan và hoạt động thể chất để học hỏi về thế giới như nhìn, nghe, xúc giác, vị giác, cầm nắm. Đến cuối giai đoạn này thì sự ổn định cảu đối tượng (Object pernamnence) sẽ dần xuất hiện. Sự ổn định có nghĩa là trẻ dần nhận thực được rằng ngay cả khi trẻ không thể nhìn thấy cái gì đó thì nó vẫn tồn tại. Đây là cột mốc quan trọng, trước khi đạt được cột mốc này trẻ chỉ quan tâm tới những gì trong tầm quan sát của chúng.

Ví dụ quan sát ta sẽ thấy tầm 8 hoặc 9 tháng tuổi, trẻ có thể làm rơi đồ vật từ trên xuống nhưng không

Jean Piaget

Jean Piaget

hề bối rồi, với trẻ thì sự vật rời khỏi tầm nhìn của chúng thì chúng không quan tâm đến nữa. Từ góc nhìn của trẻ thì đồ vật không còn tồn tại. Rồi bỗng nhiên, đến tháng thứ 8 – 10 khi vật rơi xuống trẻ sẽ cúi nhìn về phía đó và nhặng xị lên đòi lại nó. Thường các bậc cha mẹ nhặt vật lên sẽ cảm tháy ngạc nhiên và lạ lùng khi bé mỉm cười rồi lại ném đồ vật xuống chỗ cũ. Đây không phải là sự khởi đầu nỗ lực làm người lớn phát điên mà là khoảnh khắc bùng nổ đầu tiên của niềm vui sướng khi học hỏi. Đây là sự khởi đầu của ổn định đối tượng. Đây cũng là giai đoạn trẻ thể hiện sự lo âu khi bị tách rời.

Để hỗ trợ sự phát triển của trẻ dứoi 2 tuổi, lý thuyết Piaget khuyên rằng chúng ta vẫn giữ cho trẻ an toàn nhưng vẫn có được sự tò mò hứng thú và nên đáp ứng lại ngay để trấn an khi trẻ có lo âu bị xa cách. Trẻ cần có các đồ vật để kéo và đẩy, thao tác. Chúng cần bò trường, leo trèo và được ngừoi lớn đỡ cho đứng lên mà không gặp nguy hiểm. Một môi trường dành cho trẻ cần đa dạng, dành nhiều cơ hội leo trèo sẽ đem lại cho trẻ không gian cần để thử nghiệm mối liên hệ về không gian và học qua thân thể mình. Đồ chơi cần đa dạng, gây hiệu ứng (như tạo tiếng động). Trẻ cũng cần trải nghiệm với đồ chơi mềm mại như đất nặn không có độc, tinh bột ngô và nước, cát… Gương và những đồ trang sức cần để ở nơi trẻ dễ lấy có thể khiến trẻ hứng thú hơn.

Sự phát triển nhận thức cũng được kích thích khi người lớn thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, thủ thỉ nói cho các em biết điều gì đang diễn ra và khen ngợi khi các em hoàn thành nhiệm vụ nào đó.

Khi trẻ nhỏ bắt đầu có kinh nghiệm về sự ổn định của đối tượng, xuất hiện cảm giác lo âu bị phân tách thì điều quan trọng là cần hạn chế sự thay đổi trong môi trường của trẻ ở mức tối đa.

2. Giai đoạn tiền thao tác (Preoperational stage)

Theo Piaget, sau giai đoạn cảm giác vận động thì sự nhận thức của trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, bắt đầu từ năm thứ 2 cho đến 7 hoặc 8 tuổi. Giai đoạn này thì tư duy của trẻ khác biệt so với tư duy của cha mẹ nhất. Piaget cho rằng giai đoạn này trẻ có tính duy kỷ (nghĩ về mọi thứ như thế những thứ ấy đều gắn liền với chúng), trẻ chỉ tập trung vào một đặc tính sự vật hoặc chú ý vào một người trong một thời điểm nhất định. Ví dụ quen thuộc như khi trẻ muốn mua đồ chơi nhồi bông làm quà cho ông bà cha mẹ vì trẻ nghĩ trẻ thích nó nên ông bà cha mẹ cũng thích.

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Trong giai đoạn này, trẻ hình thành khái niệm từ những kinh nghiệm trực tiếp của mình trong cuộc sống. Đây chính là lý do tại sao khi nói với trẻ điều gì đó sẽ ít hiệu quả hơn là làm thể nào giúp trẻ nghĩ theo cách riêng của chúng qua một vấn đề. Vì trẻ ở giai đoạn này có xu hướng tin vào những gì chúng thấy nên chúng chưa có sự hiểu biết chắc chắn về những phẩm chất của những đối tượng trong thế giới. Ví dụ chúng bị lẫn lộn giữa “nặng” và “lớn”, chưa phân biệt chiều cao với tuổi như nghĩ ai cao sẽ nhiều tuổi. Piaget đã thực hiện một thí nghiệm kinh điển với bài tập Bảo toàn để minh hoạ kiểu tư duy này.Ông để hai dãy đồng xu trên mặt bàn, cả hai dãy có cùng số lươngj xu những khoảng cách giữa các đồng xu khác nhau, trẻ ở độ tuổi này có xu hướng sẽ cho rằng dãy có đồng xu cách xa nhau hơn là nhiều hơn. Vì trẻ ở giai đoạn này phụ thuộc vào kinh nghiệm của riêng mình nên trẻ thường có xu hướng khái quát hoá sai lầm, đặt niềm tin vào một kinh nghiệm đơn thuần nào đó.

Để hỗ trợ giai đoạn này của trẻ, chúng ta có thể:

  • Sắp xếp những gói thời gian dài để trẻ vui chơi tự do không bị ngắt quãng
  • Tạo cơ hội cho trẻ có nhiều trải nghiệm về thế giới thực tại trong cả năm
  • Xây dựng các hoạt động mang tính mở và đặt những câu hỏi mở
3-4. Giai đoạn thao tác cụ thể (Concrete operation) và thao tác hình thức (formal operation)

Hai giai đoạn này nói về lứa tuổi học đường và vị thành niên. Khi trẻ bước sang giai đoạn thao tác cụ thể thì trẻ bộc lộ nhiều thay đổi trong cách tư duy như tư duy đảo ngược, cho phép trẻ đảo ngược hướng tư duy của mình. Ví dụ, trẻ có thể lần ngược lại các bước trên sân trường để tìm hộp cơm để quên. Trẻ không còn đếm ngón tay nữa vì trẻ bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng. Khi lên 4 tuổi thì mọi con chó đều được gọi là chó, nhưng khi lên 8-9 tuổi thì trẻ biết phân biệt giữa các loại chó.

Giai đoạn cuối cùng là Piaget chỉ ra là giai đoạn hình thức, giai đoạn này bắt đầu từ lúc 11-12 tuổi được đánh dấu bằng năng lực tư duy logic bằng những thuật ngữ mang tính giả đinh. Trẻ sẽ trăn trở những câu hỏi như “Liệu có sai không khi ăn trộm thức ăn cho những con chó đang đói của bạn? , hoặc liệu một cái cây đổ mà không ai ở đó nghe nó đổ, liệu nó có tạo ra tiếng động không..?”

psychology-for-social-workers-human-service-professionals-nurses-37-638

STEM activities - hoạt động STEM

STEM là cách gọi xuất phát từ chính phủ Mỹ nhằm mô tả các lĩnh vực ngành giúp người di cư muốn xin visa gồm có Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ sư (Engineering) và Toán học (Math). Ngày này, các học giả thường nhắc đến STEM trong các chương trình dạy học về những lĩnh vực này. Khi chúng ta tách những chữ cái viết tắt (S-T-E-M) thành những mục nhỏ chúng ta có thể thấy trẻ nhỏ thực hành chúng hằng ngày.

I. STEM – Science: Các hoạt động về khoa học cho trẻ

Các buổi thí nghiệm sẽ giúp trẻ phát triển được những kỹ năng quan trọng trong khoa học như quan sát điều gì đang diễn ra, sử dụng từ ngữ để mô tả những trẻ quan sát được và lặp lại các hoạt động để so sánh các kết quả nhận được. Đặt câu hỏi và truy tìm câu trả lời là các kỹ năng cần được sử dụng hằng ngày.

Một số hoạt động hữu ích như;

#1. Không khí có thể di chuyển đồ vật:

  • Hãy bảo trẻ thổi không khí trên bàn tay và vẫy vẫy tay trong không khí. Hãy hỏi trẻ cảm thấy như thế nào và trẻ có nắm được không khí không?
  • Hãy xếp đồ chơi trôi trong chậu nước và sử dụng ống để thổi những đồ chơi đó. Hãy lặp lại những hoạt động này và để trẻ mô tả lại đồ vật như thế nào khi trẻ thổi.
  • Hãy khuyến khích trẻ dùng các từ ngữ mô tả như nhanh hơn/chậm hơn

#2. Bong bóng chỉ có một hình dạng

  • STEM - thổi bong bóng

    STEM – thổi bong bóng

    Hãy tạo bong bóng trong một chiếc xô hoặc chậu bằng xà phòng. Sử dụng nhiều vật có hình dạng khác nhau như khuôn cắt bánh quy, ống hút, dạy trẻ cách nhấn đồ vật ở trong nước và thổi bong bóng. Hãy thử nghiệm việc thổi nhanh và thổi chậm rồi hỏi trẻ là cách nào thì tốt hơn?

  • Hãy hỏi trẻ bong bóng có hình dạng gì? Cho dù trẻ dùng vật gì để thổi thì bong bóng sẽ luôn luôn có hình tròn vì sức căng bề mặt ngoài

#3. Sự thay đổi hình dạng của bóng (shadow)

  • Bên ngoài trời nắng hoặc trong chỗ tối có ánh sáng flash, hãy tạo ra bóng và hỏi trẻ : Chúng ta cần cái gì để có thể tạo ra bóng?. Câu trả lời là ánh sáng, đồ vật và nơi để bóng đổ.
  • Hãy khám phá các hình dạng của bóng khi thay đổi nguồn sáng gần hoặc xa vật. Hoặc hãy để nguồn sáng một chỗ và di chuyển đồ vật gần hoặc xa đến bức tường hoặc sàn. Hãy vẽ outline bóng của cánh tay, bàn tay hoặc cả người để trẻ quan sát.
  • Hãy hỏi trẻ nhưng câu hỏi “Cái gì” (what) như Bóng sẽ giống cái gì khi tay của con đặt gần sàn? Nó sẽ có viền rõ nét hay viền mờ nét?…

II. STEM – TECNOLOGY: Các hoạt động về công nghệ

Khi nghe đến công nghệ có thể bạn sẽ nghĩ ngay đến máy tính và điện thoại thông minh, tuy nhiên các hoạt động cho trẻ thì công nghệ là những công cụ để giúp trẻ phát triển các kỹ năng vận động thô và vận động tinh. Công cụ sẽ giúp trẻ phát triển sự phối hợp giữa tay và mắt, rèn luyện đôi tay và cơ ở các ngón tay giúp trẻ có thể học viết, đánh máy và vẽ.

#1. Học các kỹ năng sử dụng kéo:

  • Hãy chỉ cho trẻ cách dùng kéo như ngón cái sẽ xỏ vào lỗ trên của kéo, ngón trỏ ở lỗ dưới, ngón giữa giữ ở phía lỗ dưới của kéo để làm điểm tựa, ngón áp út và ngón út sẽ không dùng đến

#2. Trò chơi đi theo đường thẳng

  • Vẽ một đường rộng và đơn giản từ trên xuống dưới tờ giấy, hãy hướng dẫn cho trẻ cắt theo đường vẽ trên

#3. Các mẫu cắt rời cơ bản

  • Vẽ ba hình cơ bản trên giấy (hình vuông, tròn và chữ nhật) và cho trẻ cắt theo các hình đó. Hãy lưu lại các hình ấy cho các dự án tiếp theo của chúng.

#4. Tập đổ hoặc rót nước (Practice pouring)

STEM - Tập rót nước

STEM – Tập rót nước

  • Hãy dạy cho trẻ cách đổ nước vào bình hoặc các cốc nhựa. Hãy nói với trẻ rằng bình nước đang rỗng và trẻ hãy đổ nước cho đến khi đầy bình, sau đó rót nước vào các cốc. Tiếp tục trút nước từ cốc vào bình và lại rót vào cốc. Hãy thử nghiệm với các cốc có kích cỡ khác nhau

#5. Tập xúc (Scooping)

  • Sử dụng cái xẻng hoặc cái xúc khi đi biển, hãy tập cho trẻ xúc các đồ vật khô như cát hoặc đất từ hộp này qua hộp khác. Cố gắng không để cát rơi giữa các hộp đựng.

#6. Quan sát chi tiết

  • Hãy cho trẻ dùng kính lúp để quan sát một vật và hỏi trẻ mô tả lại những gì trẻ đã nhìn thấy và vật đó có khác gì khi trẻ không nhìn bằng kính lúp.

III. STEM – ENGINEERING: Các hoạt động về kỹ thuật

Đó là các trò chơi với các khối và các vật liệu để xây dựng nhằm phát triển kỹ năng toán và khoa học của trẻ, giúp trẻ học về lực hấp dẫn, cân bằng, hình dạng và kỹ năng giải quyết vấn đề.

#1. Mix it up

Hãy sử dụng các vật liệu hỗn hợp để xây dựng  như xây dựng các công trình nhà cửa, cầu bằng legos hoặc tường gạch

#2. Recyle it:

Hãy sử dụng các hộp bìa các ton, chai nhưa, cốc hoặc các vật đựng để làm nguyên liệu xây dựng

#3. Hãy thử thách:

Hãy tạo ra các thử thách/dự án cho trẻ sử dụng các nguyên liệu sẵn có để tập xây như:

  • Trẻ có thể xây được nhà cao đến đâu?
  • HÃy xây một đường hầm mà trẻ có thể chui qua
  • Hãy lập một đội để xây dựng một dự án nào đó
  • Hãy lắp ghép xây dựng một đồ gì đó trong 5 phút

IV. STEM – MATH: Các hoạt động về toán học

Các hoạt động như sắp xếp và đếm là một trong những cách phát triển kỹ năng logic và toán học cơ bản. Thông qua các trò chơi với khối, màu sắc, hình dạng trẻ có thể học các khái niệm về phân loại và thứ tự.

#1. Sắp xếp các đồ vật giống nhau:

Hãy tập hợp các đồ chơi giống nhau và bảo trẻ chơi trò sắp xếp đồ vật giống nhau: xe hơi với xe hơi, khối gỗ với khối gỗ. Hãy lặp lại các trò chơi này với những tiêu chí khác nhau như ghép màu sắc, kích thước, hình dạng.

#2. Đo cơ thể

Trẻ có thể sử dụng cơ thể của mình như một đơn vị đó. Ví dụ: cần bao nhiêu bé A để có thể hết chiều ngang căn phòng này? cái tháp này bao nhiêu gang tay của bé A? Chiều dài cánh tay phải có bằng cánh tay trái không?….

Da vinci measurement - STEM

Da vinci measurement – STEM

#4. Trò chơi kích thước Da Vinci:

Chiều cao từ đầu dến ngón chân của Vitruvian của Da vinci có kích thước bằng chiều rông của hai cánh tay duỗi thẳng. Hãy đo chiều cao của trẻ trên mặt sàn bằng băng dính, sau đó xoay người trẻ để so sánh chiều cao và khoảng cách của hai cánh tay duỗi thẳng.

V. Các hoạt động về luyện tập 5 giác quan

Khám phá các giác quan giúp cho trẻ hình thành được những kỹ năng khoa học nhưn quan sát điều gì đang diễn ra và mô tả lại những điều trẻ cảm nhận. Khi trẻ phát huy được tất cả các giác quan, bộ não sẽ có những kết nối mạnh hơn và thông tin được lưu giữ lâu hơn. 5 giác quan là cách cơ bản để trẻ khám phá, tìm tòi và hiểu được một thông tin mới.

#1. Về thị giác

Loài loại động vật có vú thì thị giác là một trong những giác quan mạnh nhất, cho phép chúng ta nhìn thấy màu sắc, kết cấu, hình dáng và chuyển động.

Các hoạt động bổ ích cho thị giác như;

  • Nhìn tập trung: sử dụng các nguyên liệu như ruột ống giấy toilet hoặc giấy cuộn tròn để trẻ có thể nhìn qua, sau đó nhờ trẻ mô tả lại những gì trẻ thấy. Bạn có thể thực hành khi đang đi tản bộ, cho trẻ thời gian quan sát lặp lại và mô tả lại.
  • Thế giới hoa hồng: sử dụng “ống nhòm” như trên nhưng dán lớp giấy bóng kính xenloophen. Hỏi trẻ có gì khác biệt.
  • Sắp xếp màu sắc: Hãy cho bé đeo kính 3D và bảo trẻ xếp các hạt kẹo M&M hoặc hạt trân châu. Sau
    STEM - I spy with little eyes

    STEM – I spy with little eyes

    đó bỏ kính ra và quan sát kết quả.

  • Nhìn phóng đại: sử dụng kính lúp để quan sát sự vật gần hơn, dùng để khám phá khi cho trẻ đi chơi bên ngoài như rễ cây, cỏ hoặc trong các cành cây đổ…(Chơi trò I spy with my little eyes)
  • Trò nhắm đúng đích: cho trẻ ngồi vòng tròn, sau đó bảo trẻ bịt một mắt và chuyền bóng cho bạn khác. Quan sát và hỏi trẻ chuyền đúng chưa?

#2. Thính giác

Thính giác giúp chúng ta thu nhận được cảm giác về môi trường xung quan, hỗ trợ cho hoạt động giao tiếp. Các hoạt động bổ ích có thể thử như:

  • Deer ears: con nai và nhưng con vật khác có thể chuyển động đôi tai để phán đoán âm thanh nguy hiểm tốt hơn cho mình. Hãy cho trẻ chơi trò ve vẩy tai bằng cách đặt tay sau tai và bịt mở tai để mô tả lại sự khác biệt về âm thanh khi trẻ thực hiện.
  • Twist ‘n’ shout: Hãy so sánh âm thanh ồn ào và yên tĩnh bằng cách cho bảo trẻ đứng dậy và hát ở giọng bình thường, sau đó xoay vòng xuống ghê và hát thì thầm, sau đó lại xoay lại và dứng lên hát với giọng to hơn.
  • Clap clap: cho các trẻ đứng vòng tròn và vỗ tay lần lượt, lúc to lúc nhỏ
  • Match the sound: sử dụng các hộp jarr hoặc ống có vỏ kín không thể nhìn xuyên, thử bỏ các đồ vật khác nhau vào các hộp cho trẻ lắc. Bảo trẻ thử đoán xem âm thanh do đồ vật nào phát ra
  • Bé nghe thấy gì? Mỗi lần đi chơi hãy hỏi trẻ đã nghe thấy gì (tiếng chim hót, kêu chíp chip, lá rơi, còi xe kêu, tiếng chó sủa, tiếng còi tàu…). Có thể bảo trẻ bắt chước lại tiếng kêu mà bé nghe thấy.

#3. Xúc giác

Xúc giác giúp chúng ta nhận biệt được các chi tiết nhỏ, dùng để thao tác bằng tay để sáng tạo. Các hoạt động bổ ích như:

  • Đồ vật bí ẩn (mystery objects): hãy cho nhiều đồ vật khác nhau vào gối hoặc các túi, bảo trẻ hãy sờ và cảm nhận các vật và phán đoán đồ vật ấy là gì mà không cần nhìn đồ vật đó.
  • Thò tay vào túi: hãy cho trẻ thò vào túi đựng các loại vật liệu như cát, đậu, hạt muỗng, lá , đất hoặc sữa chua…hãy hỏi trẻ các câu hỏi để kích thích trí tưởng tượng của trẻ.
  • Eye sense: hãy sử dụng một đoạn dây, lông  vũ hoặc giấy hoặc các đồ vật tương tự, cho trẻ nhắm mắt nắm vật từ tay này sang tay kia và đoán.

#4-5: Vị giác và khứu giác

STEM - trò chơi khứu giác

STEM – trò chơi khứu giác

Vị giác và khứu giác thường gắn liền với nhau bởi chúng khó có thể khám phá cái này mà ko có cái kia. Ghi nhớ mùi vị là một trong những hoạt động cảm giác gợi liên tưởng nhất. Các hoạt động có thể thử cho trẻ như:

  • Thử khứu giác: hãy vừa ngửi một miếng cam và nếm thử.
  • Tìm lọ có mùi giống nhau: sử dụng các hộp jar, miếng bông cotton và hương vị thực phẩm. Hãy nhỏ một vài mùi vị vào các miếng bông cotton cho vào lọ đựng để lưu lại mùi ở trong lọ. Hãy đặt các bức tranh mô tả mùi vị đó như bạc hà, hương chanh, quế, sô-cô-la, hạnh nhân.. Hãy cho trẻ ngửi và tìm xếp lại với nhau.
  • Khơi gợi cảm xúc (create a mood): mỗi một mùi vị khác nhau có thể tạo ra cảm xúc khác nhau. Hãy thử đặt các gia vị và thực ăn khác nhau ở trung tâm nhà bạn hằng ngày. Hãy hỏi trẻ mỗi ngày là bé có cảm giác như thế nào khi ngửi thấy mùi vị đó: ví dụ như ấm áp dễ chịu như mùi quế, thanh mát như hoa lavender, cảm giác nắng đầu mùa như chanh vàng. Trẻ thích mùi nào nhất?
  • Hương vị như thế nào? Trong giờ ăn vặt, hãy xếp các đồ ăn theo cặp để cho trẻ thử. Ví dụ một miếng táo – cam, hỏi trẻ loại nào ngọt hơn, chua hơn? Miếng phô mai – bánh crack, hãy hỏi trẻ miếng nào mềm hơn? cứng hơn? giòn hơn?…
  • Trò chơi Willy Wonka: Willy wonka đã tạo ra một loại kẹo cao su có vị các món ăn, hãy cho trẻ tưởng tượng đang ăn loại kẹo mà có mùi vị trẻ yêu thích.
Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida
Điều 1: Nói chuyện với bé

Hãy kể thật nhiều chuyện cho bé ngay từ khi bé mới ra đời.

Hãy dạy cho bé tên gọi của những đồ vật thân thuộc xung quanh, từng thứ một

Nếu cha mẹ nói chuyện nhiều với con từ sớm, thì khi lớn lên khả năng ngôn ngữ của con sẽ phong phú đến mức ngạc nhiên.

Điều 2: Ẵm bé ra ngoài dạo chơi

Khi ẵm bé ra ngoài đi dạo, cha mẹ hãy kể thật nhiều câu chuyện thú vị về những đồ vật mà bé nhìn thấy. Khi ra ngoài, đừng chỉ đặt bé trong xe nôi và đẩy đi nên bế bé trong lòng rồi trò chuyện cùng bé. Bởi vì, khi vừa âu yếm, vừa thì thầm vào tai bé những câu chuyện thì hiệu quả sẽ tốt hơn và bé lớn lên sẽ nhanh nhẹn hơn.

Điều 3: Đọc truyện cổ tích cho bé nghe

Hãy đọc thật nhiều chuyện cổ tích cho bé nghe. Cha mẹ đừng nghĩ rằng những câu chuyện kiểu như cậu bé sinh ra từ quả đào, gỡ đi hay gắn thêm cái bowics một cách quá đơn giản, vãi tro tàn lên cây sẽ lại nở hoa… toàn là những điều dối tra, phi logic, phi thực tế. Chính những câu chuyện phi thực tế như vậy mới gips trẻ phát triển khả năng lý giải những hiện tượng trong thế giới trừu tượng, hư cấu, một thế giới không tưởng trong mơ. Cha mẹ hoàn toàn không nên nuôi dạy con chỉ bằng những câu chuyện logic, khô khan và đầy thực tế.

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Những bức tranh, những cuốn tiểu thuyết do con người viết và vẽ nên, không phải tất cả đều lấy chất liệu từ thực tế cuộc đời. Chúng còn là những sản phẩm về những thế giới hư cấu, tưởng tượng. Nếu không hiểu về thế giới hư cấu thì văn hóa không có tính sáng tạo. Những con người quá thực tế sẽ không hiểu được nghệ thuật.

Một điều hữu ích khác khi kể chuyện cổ tích cho bé nghe là nâng cao năng lực lý giải câu chuyện bằng tai. Bế sẽ hiểu rõ nội dung câu chuyện, tưởng tượng được bối cảnh. Nếu cha mẹ kể chuyện một cách diễn cảm, bé sẽ cười, sẽ hồi hộp, sẽ khóc thút thít khi nắm bắt được tình cảm nhân vật trong câu chuyện. Cứ như vậy, cha mẹ đã giúp bé bồi dưỡng khả năng quan tâm lắng nghe người khác, đến lúc đi học bé sẽ biết chăm chú lắng nghe thầy cô giáo giảng bài.

Điều 4: Hãy cho bé xem sách tranh

Từ lúc trẻ được 4-5 tháng tuổi, hãy mở sách ra trước mặt bé và kể cho bé nghe những câu chuyện đơn giản về các bức tranh được vẽ trong sách, chỉ cần kể một chút là đủ. Lúc đầu, có lẽ bé không chú tâm vào các trang sách. Khi đó, cha mẹ hãy cầm sách lên và đọc cho con nghe, Như vậy, dù lúc đầu bé không hứng thú, những chẳng mấy chốc não bộ của bế sẽ mở ra một đường dẫn thần kinh dành cho sách tranh.

Điều 5: Cho bé tiếp xúc với những bản nhạc, bức họa nổi tiếng

Mỗi ngày, hãy cho bé nghe những bản nhạc nổi tiếng một. hai lần. Ngoài ra, cha mẹ nên treo những bức họa hoặc tác phẩm điêu khắc nổi tiếng trong phòng những đừng chỉ treo để đó thôi mà điều quan trọng là phải kể cho trẻ nghe những câu chuyện về các tác phẩm đó. Cha mẹ thường xuyên thay tranh,ít nhất một lần một tháng.

Điều 6: Hãy dắt bé ra ngoài đi dạo mỗi ngày

Với các bé từ 1 đến 2 tuổi, mỗi ngày cha mẹ hãy dẫn bé ra ngoài đi dạo. Lúc này cha mẹ đừng chỉ dắt bé đi vu vơ, quanh quẩn, mà hãy vừa đi vừa liên tục trò chuyện cùng bé. Điều quan trọng là hãy kể cho bé nghe về những câu chuyện cuộc sống tự nhiên kỳ diệu đang phô bày trước mắt trẻ. Hãy tìm đề tài từ những hòn đá cuối, từng ngọn cỏ, cành hoa để trò chuyện với bé.

Điều 7: Không kể chuyện ma, chuyện kinh dị

Không kể chuyện ma, chuyện kinh dị cho bé nghe và không dọa bé sợ. Không được hù dọa kiểu như đứa nào hư sẽ bị

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

ma bắt đi hoặc bị ông kẹ bắt cóc. Những câu chuyện như thế này sẽ tạo ra tổn thương tinh thần rất lớn trong tâm hồn của bé. Sau này lên lớp 3, lớp 4 có thể bé vẫn còn sợ đi vệ sinh một mình.

Điều 8: KHông sử dụng các từ ngữ cấm đoán

Cha mẹ không sử dụng các từ ngữ cấm đoán, những từ ngữ có tính phủ định, tiêu cực khi nuôi dạy con như “KHông được dùng kéo nghe chưa, nguy hiểm, cấm xé giấy, nghe không hả, cấm không được bước ra ngoài…”

Khi bé muốn chơi kéo, tốt hơn cha mẹ nên để cho bé chơi và đứng ngoài giám sát. Khi bé muốn ra ngoài chơi, bố mẹ cũng nên cho bé đi. Tuy nhiên, cũng cần cho bé biết việc nào là nguy hiểm. Nếu chúng ta cứ nuôi bé trong một phạm vi an toàn thì bé sẽ trở thành một đứa trẻ không thể làm bất kỳ điều gì cùng mọi người mà chỉ đứng một bên và nhìn thôi.

Điều 9: Không đối xử tiêu cực

Cha mẹ không được trước mặt một bà mẹ khác, dùng những từ ngữ tiêu cực, có ý bác bỏ để nói bé như “thằng này nó chả có tí điềm đạm naofcar!”, không biết nghe lời mẹ gì hết, nó không có hứng thú làm việc gì hết…” Những từ ngữ này tuyệt đối không được sử dụng, các bé sẽ trở thành những đứa bé tiêu cực y như vậy.

Điều 10: Không cho bé xem tivi

Các bậc phụ huynh không nên cho bé xem tivi bởi có ý kiến cho rằng xem tivi sẽ làm phá hủy cấu trúc đại não của trẻ. Hơn nữa, các nhà khoa học còn cảnh báo, tivi có thể phát ra các tia âm cực sinh ra từ dòng điện cao áp. Các tia âm cực này gây ảnh hưởng đến thùy trán của não (bộ phận đảm nhiệm khả năng tư duy).

Điều 12: Sớm dạy bé đọc chữ cái
Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nếu có thể, cha mẹ hãy dạy bé học bảng chữ cái càng sớm, càng tốt. Hãy tập cho bé thói quen đọc nhậm từ sớm để nâng cao khả năng đọc sách của bé. Nếu bé đã quen đọc nhẩm từ lúc 4-5 tuổi thì về sau tốc độ đọc sách của bé cũng nhanh hơn nhiều. Cần nhớ rằng, trong quá trình đọc từ lúc trẻ nhớ được chữ cho đến khi đọc được chữ thì việc cổ vũ khích lệ trẻ là hết sức cần thiết. Ngoài ra điều quan trọng mà cha mẹ cần làm là trò chuyện với con thật nhiều, đọc truyện trnah cho con nghe. Khi trẻ từ 2-3 tuổi, hãy bắt đầu cho trẻ tập nhắc lại lời mẹ nói.

Điều 13: Dạy đi dạy lại nhiều lần

Khi dạy cho trẻ vấn đề gì đó, hãy dạy đi dạy lại nhiều lần cho trẻ. Cha mẹ cần biết rằng để trẻ có thể làm quen với một việc nào đó, cần thời gian ít nhất 3 tháng. Muốn chuyển sang từ trang thái chưa có ý thức sang trạng thái có ý thức thì các tế bào thần kinh của não bộ phải liên kết chặt lại vwois nhau tạo thành một mạng lưới thống nhất thì hoạt động trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Mạng lưới này được hình thành khi các tế bào myelin bao bọc những tế bào thần kinh xoay quanh sợi trục, để tránh bị rối loạn, và cần phải lặp đi lặp lại tác động đó đến 100 lần.

Điều 14: Rèn luyện trí nhớ

Hãy rèn luyện trí nhớ cho trẻ từ khi còn nhỏ. Nói vệ điều này, các bậc cha mẹ phải học hỏi người cha của nhà thông thái Goethe. Ở Đức, có những bài đồng dao vừa đơn giản vừa dễ nhớ, ông đã nhiều lần dạy cho Goethe nhớ những bài đồng dao đó. Ông nói rằng :Vì những bài đồng dao đó có giai điệu hay nên rất dễ nhớ, luyện tập như vậy sẽ giúp cho vốn từ của Goethe được phong phú hơn. Ngoài ra, ông còn dạy Goethe đọc sách lúc chưa tròn 4 tuổi, chủ yếu là những cuốn sách có lời bài hát. Khi lớn hơn một chút, cha ông dưa đi tham quan trung tâm, vùng ngoại ô để nghe về lịch sử cũng như địa lý của vùng đất đó.

Những cách rèn luyện như thế tuyệt đối không thừa. Hãy nhớ rằng trẻ từ 2-3 tuổi là những bộ óc thiên tài. ở giai đoạn này trẻ càng được luyện tập nhiều thì sau này trở nên thông minh,

Điều 15: Rèn luyện tư duy

Không chỉ rèn luyện trí nhớ, để trí não của trẻ trở nên thông minh, cha mẹ phải chú trọng rèn luyện tư duy cho trẻ khi lên 3 tuổi. Hoạt động ghi nhớ và tư duy diễn ra ở những vùng hoàn toàn khác nhau trong đại não. Hoạt động ghi nhớ diễn ra ở thùy thái dương, còn hoạt động tư duy diễn ra ở thùy trán. Hoạt động của thùy trán khi luyện tập sẽ rất nhanh nhạy nhưng khi không rèn luyện, thì sẽ kém linh hoạt và trở nên trì độn. Bởi vì không hoạt động thường xuyên thì bộ phận đại não không phát triển mà còn gây thoái hóa đại não.

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Điều 16: Cho trẻ vận động đủ

Cha mẹ không chỉ nên chú trọng giáo dục trí tuệ cho côn trẻ mà cần các phương diện khác như sức khỏe, thể thao, đạo đức, giáo dục, tình cảm.

Khi trẻ lên 2 hãy cho trẻ đi bộ đều đặn mỗi ngày. Quy định mỗi ngày con phải đi từ 10-20m và nên bắt đầu cho con tập chạy. Bắt đầu từ độ tuổi này, khả năng vận động vốn có của trẻ sẽ sớm được định hình

Điều 17: Làm vở học chữ

Cha mẹ hãy áp dụng cách thức sau đây để tăng vốn từ vựng cho con: tặng vở học chữ cho con, vở phải có các chữ cái theo thứ tự a,b,c. Phía bên phải mỗi trang, cha mẹ hãy viết bảng chữ cái theo thứ tự a,b,c cho trẻ. Hãy dạy con phân biệt danh từ, động từ, tính từ…

Điều 18: Hãy ghi lại những cuốn sách đã đọc

Cha mẹ hãy ghi lại tên những cuốn sách con đã đọc. Khi 2 tuổi, trẻ đã đọc được cuốn sách này, cuốn sách kia. Vì vậy, cách khuyến khích con đọc nhiều sách hơn và ghi nhớ tốt hơn là cha mẹ hãy hỏi con cuốn sách đó có bao nhiêu trang, con nhớ được bao nhiêu.

Những ghi chép quý giá này sẽ giúp con tự rèn luyện trong quá trình trưởng thành. Cha mẹ hãy tin rằng mỗi lần mình ghi thêm số trang con đã đọc ở mỗi cuốn là mỗi lần giúp trẻ phát triển tinh thần qua từng giai đoạn.

Điều 19: Tự học

Trẻ con thường dễ bị cuốn hút bởi những thứ mới lạ, vì thế hãy tặng cho con một cuốn tự điển dành cho trẻ em và hãy cùng con tìm hiểu cách viết chữ đúng, cũng như ý nghĩa của từ.

Có những lúc ta dù biết được địa chỉ nhưng khi lên xe thì mãi không nhớ ra đường, mà phải dựa vào bản đồ, hoặc vừa đi vừa hỏi mới nhớ ra được. Tương tự như vậy, trẻ sẽ dễ tiếp thu kiến thức nếu như con buộc phải tra cứu từ một cách khó khăn, vất vả hơn là dựa vào sự chỉ dẫn của cha mẹ.

Điều 20:  “4 điều” cần nuôi dạy trẻ

Cuối cùng, kiến thức quan trọng trong việc nuôi dạy trẻ từ khi sinh ra cho đến khi bé được một tuổi là nuôi dạy theo “4 điều”: thứ nhất: yêu thương con, thứ hai: chăm sóc con, thứ ba: xây dựng ngôn ngữ cho con và cuối cùng là khen ngợi con.

Trích lược: Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ theo phương pháp Shichida – Tác giả: Makoto Shichida

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo sư Phùng Đức Toàn là uỷ viên Ban chấp hành Hội nghiên cứu Giáo dục tương lai Trung Quốc, Phó chủ nhiệm thường vụ Uỷ ban thiếu nhi Hiệp hội ưu sinh và Giáo dục chất lượng cao Trung Quốc. Với những cống hiến của mình cho ngành giáo dục, tên tuổi của ông đã được lưu danh vào những cuốn sách lớn như Từ điển học giả nổi tiếng đương đại Trung Quốc, Những nhân vật nổi tiếng thế giới. Công trình Phương án 0 tuổi (giáo dục sớm) đã nhận giải ưu tú tại triển lãm đầu tiên về sống tốt, dạy tốt toàn Trung Quốc, gỉai bạc tại Hội chơ thành quả khoa học trong điểm nổi tiếng toàn Trung Quốc, giải vàng tại Hội chợ phát minh và tinh phẩm toàn Trung Quốc, giải sáng tạo tại Hội nghiên cứu thí nghiệm giáo dục Trung Quốc, giải thành quả nghiên cứu ư tú giáo dục tương lai Trung Quốc,…

Giáo dục sớm (giáo dục từ 0 đến 6 tuổi) là quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ phát triển trong thời kỳ sinh trưởng của não, nhằm mục đích khai thác tiềm năng của con người. Bài viết dưới đây tóm tắt 15 phương diện của Phương án 0 tuổi trong cuốn Phương án 0 tuổi – chiếc nôi ươm hạt giống tài năng (dành cho trẻ từ 0 đến 6 tuổi)

1. Rèn luyện cơ quan cảm giác

Con người cso 5 giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và vận động. Bất cứ trong năm giác quan đó cũng tuân theo chân lý “dùng thì tiến bộ, bỏ thì thụt lùi”, “nhĩ thông mục minh” (tức là mắt tinh tai thính nghĩa là thông minh). Giống như loài mèo, thị giác phát triển trong hai tháng đầu tiên nếu chúng ta khâu mí mắt không cho tiếp xúc ánh sàng thì mèo sẽ không bao giờ có khả năng thị giác, dây thần kinh thị giác cũng bị teo lại. Phương án 0 tuổi cho rằng cần phải rèn luyện 5 giác quan trước tiên:

  • Cần phải cho trẻ sống trong căn phòng nhiều ánh sáng ngay sau khi chào đời, hãy để trẻ nhìn thấy vật có hình khối lớn, màu sắc sặc sỡ (bạn có thể treo bóng, dây màu, đồ chơi ở chỗ gần nhất cách chỗ nằm của trẻ 40-50cm, thường xuyên để trẻ nhìn thấy gương mặt ngừoi nói chuyện, rèn luyện khả năng co giãn đồng tử (bất ngờ bật tắt đèn)
  • Nơi ở không nhất thiết tránh xa tiếng ồn: hãy để trẻ nghe nhạc, nghe tiếng nói chuyện, tiếng chuông, bước chân, nước chảy…) trừ âm thanh quá lớn.
  • Cho trẻ ngửi các mùi khác nhau, tránh các mùi hôi thối, nấm mốc, hoá chất khử độc..
  • Cho trẻ nếm các vị khác nhau: sau 6 tháng trẻ có thể nếm các vik chua, ngọt, đắng, cay, mặn..(nhúng đũa vào các loại canh, sinh tố hoa quả..)
  • Rèn luyện xúc giác của toàn bộ cơ thể, đặc biệt là xúc giác của tay: đầu ngón tay nơi tập trung nhiều dây thần kinh nối liền trung khu thần kinh ở đại não, thế mới có câu nói “mười ngón tay nối liền trái tim”. Từ nhỏ hãy luyện cho trẻ cầm, nắm, mở, gõ, cấu, véo, kéo, đẩy,.. để chuẩn bị thật tốt cho quá trình lao động của trẻ sau này.

2. Phát triển khả năng giao tiếp xã hội

Bạn cần tạo điều kiện bồi dưỡng giao tiếp xã hội cho trẻ ngay từ sớm, trẻ không còn chứng sợ người lạ mà trở nên thích giao lưu, thoải mái tự tin:

  • thường xuyên có nhiều ngừoi chơi cùng trẻ, dạy trẻ phát âm nói chuyện, chơi thật vui vẻ
  • người tiếp xúc cần có thái độ hoà nhã, thân thiết, thể hiện vui vẻ
  • người lạ khi tiếp xúc không cần nóng vội khiến bé sợ hãi, không doạ nạt, cừoi nhạo
  • ngừoi lớn cũng cần tôn trọng trẻ ngay cả khi khách tới chơi cũng nên chào hỏi, tạm biệt trẻ, không ép trẻ xưng hô lịch sự mà phụ huynh cần làm mẫu, không cưỡng ép trẻ làm việc mình không thích trước mặt khách
  • thường xuyên bé trẻ sang nhà hàng xóm chơi, khích lệ trẻ tự do nói chuyện,

3. Dạy trẻ biết cách quan sát và đặt câu hỏi

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Kể từ ngày bạn bế trẻ lên để trẻ “nhìn thế giới” bạn cần dạy trẻ quan sát môi trường xung quanh, từng bước hướng dẫn trẻ đặt câu hỏi. Phương pháp tốt nhất là khi trẻ nhìn hoặc nghe hoặc sờ thấy vật gì đó bạn nên kịp thời dùng từ ngữ ngắn gọn và đơn giản gọi tên đồ vật.

4. Phát triển thể lực và độ khéo léo

Chúng ta cần kích thích sự phát triển các dây thần kinh hoạt động của trẻ cũng như sự phát triển thể lực và độ khéo léo ngay từ đầu. “Ba tháng biết bò, sáu tháng biết ngồi, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi, đầy năm gọi mẹ”, bạn hãy cố gắng tập cho trẻ vận động như tập thể dục bị động, tập bơi, dleo cầu thang, bò cao thấp,…

5. Rèn luyện kỹ năng lao động và chế tác

Bạn nên khuyến khích con làm việc nhà tự phục vụ mình trong khả năng của trẻ. Như khi trẻ biết đi thì nhờ trẻ lấy hộ đồ, dạy trẻ mặc quần áo, giặt khăn,.. Về phương diên chế tác thì có thể hướng dẫn con cắt giấy thủ công, nặn đất, trồng cây, chăm sóc con vật, làm đồ chơi,…

6. Bồi dưỡng khả năng ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ, hiện tượng và lớp vỏ bên ngoài của tư duy. Nếu thiếu ngôn ngữ loài người sẽ không thể tư duy và tưởng tượng. Bạn đừng nghĩ rằng biết nói là khả năng bẩm sinh của trẻ, chỉ cần không phải là người câm thì khoảng một tuổi trẻ tự nhiên sẽ biết nói rồi sau đó chúng nói véo von suốt ngày như một chú vẹt. Suy nghĩ này là sai lầm vì khả năng ngôn ngữ của trẻ không chỉ có sự phân biệt giữa biết nói sớm và biết nói muôn, nói tốt hay nói không tốt mà còn có sự phân biệt giữa biết nói chuyện và không biết nói chuyện. Vì vậy việc phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ phải bắt đầu ngay từ khi trẻ chào đời, thực hiện biện pháp “đàn gảy tai trâu” là điều tuyệt đối cần thiết.

7. Học nghe và học nói giữ vị trí quan trọng số một

Khi trẻ khoảng 3 tháng tuổi bạn nên dạy trẻ phát âm, bất kể âm nào cũng tốt, lúc trẻ lớn hơn một chút là có thể dạy trẻ tiếng lợn, mèo, gà kêu…trẻ cần sự khích lệ và khen ngợi của cha mẹ để chúng vui vẻ học nói. Cố gắng quy phạm hoá những từ ngữ bạn dạy cho trẻ.

Cần kiên trì cùng tẻ nghe, đoc và học thuộc các bài hát thiếu nhỉ, các câu đố, các bài thơ kim cổ, các câu khẩu lệnh, đặc biệt là kể chuyện cho trẻ nghe thật nhiều.

8. Dạy trẻ học âm nhạc và ca múa

Quá trình học âm nhạc và ca múa thúc đẩy sự phát triển của bán cầu não phải, từ đó giúp con người có năng lực tưởng tượng. Thông qua việc nghe và hát đúng âm, đúng nhịp, nắm bắt được tiết tấu và giai điệu, hiểu được hình tượng âm nhạc và hình tượng ca múa, đồng thời có thể diễn tấu được nhạc cụ khiến ngón tay troẻ nên đặc biệt linh hoạt kích thích trí tuệ phát triển,

Phát triển khả năng âm nhạc và ca múa còn là quá trình giáo dục thẩm mỹ. Nó khiến con người có được năng lực cảm nhận, thưởng thức và biểu hiện cái đẹp, từ đó có được tình yêu đối với cái đẹp, khiếu thẩm mỹ cũng như khả năg sáng tạo ra cái đẹp nhờ vậy mà cuộc sống con người trở nên phong phú hơn.

Quá trình dạy trẻ này bao gồm các bước cơ bản như cho trẻ nghe nhạc sau khi sinh ra, cho trẻ nghe hàng ngày các giai điệu du dương, bản nhạc nổi tiếng. Trẻ sẽ đi từ lạ lẫm đến yêu thích, từ yêu thích tới lĩnh hội nhờ đó có thể cảm nhận cái đẹp.

9. Dạy trẻ học hội hoạ và tạo hình

Cũng giống như âm nhạc và ca múa, việc bồi dưỡng năng lực hội hoạ và tạo hình cho trẻ cũng là một phần của giáo dục trí tuệ và thẩm mỹ. Nó kích thích bán cầu não phải phát triển, tăng cường khả năng tưởng tượng cũng như năng lực tư duy hình tượng và sáng tạo cho trẻ.

Tiêu chuẩn cơ bản của giáo dục mỹ thuật từ nhỏ là không dựa trên cơ sở nét vẽ có giống hay không

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

giống để đánh giá mà phải xem trẻ có yêu thích các sự vật đẹp đẽ, các tác phẩm mỹ thuật hay không, xem trẻ có dũng cảm để vẽ và tạo hình. Do đó, giáo dục mỹ thuật ngay từ nhỏ phải tiến hành theo các bước sau: thường xuyên dẫn trẻ đi ngắm các đồ chơi, sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp, tham quan phong cảnh thiên nhiên, công trình kiến trúc, bức danh hoạ… Các sắp đặt và trang trí đồ vật trong nhà cũng cần chú ý tới sự thống nhất giữa vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp nhân tạo. Nên thường xuyên đưa trẻ đi tham quan triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh nghệ thuạt, mua một vài bức tranh về nhà và bình luận vẻ đẹp của chúng.

Bất kể một yếu tố nào trong đời sống tinh thần của con người (bao gồm trí tuệ, tình cảm và đời sống nghệ thuật) đều không thể ép buộc và cần phải dẫn dắt, cuốn hút để tự bản thân con người cảm thấy vui vẻ mới có thể gặt hái được thành công.

10. Dạy trẻ chơi đồ chơi, tự tạo đồ chơi và làm thí nghiệm

Đồ chơi là thiên sứ của trẻ em và hầu như em nhỏ nào cũng thích trò chơi. Đó là do nhu cầu được tiếp xúc, được sờ, được quan sát, được suy nghĩ và nhận thức thế giới và nhận thức cuộc sống cũng như những đòi hòi trong quá trình kích thích sự phát triển của trí tuệ quyết định. Nó không khác gì việc trẻ sinh ra cần phải được ăn các món ăn ngon.

Đồ chơi của trẻ em không cần phải càng nhiều càng tốt, càng đắt càng hữu ích, mới mua sẽ tốt hơn tự tạo. Mua đồ chơi cho trẻ và dạy chúng chơi cũng là một nghệ thuật. Người lớn nên mua đồ chơi cho trẻ một cách có mục đích. Người lớn không dược mua đồ chơi cho trẻ chỉ để yên chuyện, càng không mua trong lúc khóc ăn vạ.

Chúng ta nên lựa chọn đồ chơi theo lứa tuối và yêu cầu giáo dục. Các bậc cha mẹ có thể kham khảo trình tự tăng lên về số lượng và chất lượng của các loại đồ chơi như sau:

Đối với trẻ 0-1 tuổi: ưu tiên đồ chơi sờ nắm được, có màu sắc tươi tắn, âm thanh vui tai, dễ cầm nắm (chuông, trống, động vật nhỏ, quả cầu, bóng da,..)

Đối với trẻ 1-2 tuổi: chơi loại đồ chơi có thể chuyển động được, đồ chơi khích thích sự phát triên các động tác của đôi tay

Đối với trẻ từ 2-3 tuổi: đồ chơi mang tính mô phỏng nhằm kích thích trí tưởng tượng của trẻ

Đối với trẻ 3-4 tuổi: đồ chơi mang tính trí tuệ như miếng gỗ ghép hình, nhận biết mặt chữ, chức năng ghi âm, bức tranh nghệ thuật,

Trẻ từ 4 tuổi trở lên: tăng cường đồ chơi thể tháo, đồ chơi xây dựng, đồ mang tính trí tuệ như kính phóng to, hiển vi, nam châm, kim chỉ nam, nhiệt kế…

Cha mẹ có thể tự làm đồ chơi cho trẻ từ các công cụ hay đồ vật trong nhà như chơi cát, nghich bùn với xô chậy, mùa xuân làm diều, mùa hè làm chong chóng, mùa thu làm chuồn chuồn tre, tết đến làm đèn lồng…

11. Cuộc sống và các trò chơi tập thể

Với những trẻ 3 tuổi chưa đi nhà trẻ cũng cần phải thường xuyên vui đùa với các bạn cùng trang lứa. Trẻ sau 3 tuôi nên đi nhà trẻ nửa ngày hoặc nhiều hơn để cùng sinh ohatj vui chơi với bạn nhỏ khác. Những tính cách, năng lực chỉ có thể bồi dưỡng thông qua cuộc sống và trò chơi tập thể như tình yêu thương, tinh thần hợp tác, tính hào phóng, kỷ luật, vui vẻ và công bằng, lễ phép và tự tôn, quan niệm tập thể, ý thư cạnh tranh, tinh thần trách nhiệm… Do đó chúng ta không được biến trẻ thành báu vật trong nhà, không cho ra ngoài, không cho đi nhà trẻ thì chúng trở nên cô độc, rụt rè nhút nhát, ích kỷ.

12. Dạy trẻ lòng yêu thiên nhiên và nhận thức thiên nhiên

Thiên nhiên là một cuốn sách với những nội dung cực kỳ phong phú. Trong điều kiện có thể, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi du lịch, hoặc dã ngoại để chúng có nhiều cơ hội tiếp xúc với sông suối, mặt đất, đại dương. Ngay từ sớm, trẻ nên biết nhiều tên về loại hoa, lá cỏ cây chim thú. Bởi những ân huệ mà thiên nhiên mang lại cho con người được thể hiện ở nhiều phương diện, không chỉ là quần áo thực phẩm mà còn là suối nguồn nuôi dưỡng tinh thân con người.

13. Dạy trẻ tìm hiểu và nhận thức xã hội

Trong điều kiện có thể các cha mẹ có thể đưa con đi thăm các công xưởng, cửa hàng, trường học, bảo tàng, về miền nông thôn để trẻ tận mắt nhìn người lớn làm gì,nói gì lao động ra sao,

14. Dạy trẻ nhận biết mặt chữ và đọc hiểu từ sớm

Phương án 0 tuổi coi việc nhận biết mặt chữ và đọc hiểu là một phần của quá trình bồi dưỡng ngôn ngữ thị giác ngay từ giai đoạn đầu.Đây là một phát hiện và sáng tạo quan trọng của giáo dục tố chất, mang tầm ý nghĩa của thời đại. Việc phát triển ngôn ngữ thị giác sớm vô cùng cần thiết mà hoàn toàn có thể thực hiện được

15. Các hoạt động khác

Giáo dục sớm nhấn mạnh việc phải bồi dưỡng trẻ thông qua một cuộc sống phong phú trên nhiều phương diện nhằm xây dựng nền móng vững chắc kiên cố cho sự phát triển của các em sau này.Dựa trên cơ sở những đam mê, phong phú của trẻ để áp dụng phương pháp giáo dục phù hợp sở trường.

Chernyshevsky có nói Muốn trở thành con người có giáo dục thật sự thì bắt buộc phải có ba phẩm chất: tri thức uyên bác, thói quen tư duy và nhân cách cao quý. Vốn trí thức ít ỏi khiến con người trở nên ngu dốt, không có thói quen tư duy khiến con người trở nên thô lỗ, vụng về, không có nhân cách cao quý con người sẽ trở nên thấp hèn.

Erikson

Erik Erikson sinh ra tại Đức năm 1902, ông là một nghệ sỹ và giáo viên. Ông bắt đầu quan tâm đến tâm lý học khi gặp Anna Freud (con gái của Sigmund Freud – ông tổ của ngành phân tâm học). Năm 1933, ông làm việc tại Đại học Y dược Harvard, sau đó chuyển tới đại học Yale và bắt đầu quan tâm tới ảnh hưởng của văn hoá và xã hội đến sự phát triển của trẻ em. Tác phẩm đầu tiên của ông – Trẻ em và xã hội (Childhood and Society) xuất bản lần đầu năm 1950 được các nhà giáo dục học và tâm ký học đánh giá là một tác phẩm kinh điển cho đến thời đại ngày nay.

Các công trình của Erikson rất quan trọng đốiv ới các nhà giáo dục mầm non vì nó chỉ ra nền tảng phát triển cảm xúc, xã hội, sức khoẻ và tinh thần trẻ như thế nào. Lý thuyết của ông thường được biết đến là Tám giai đoạn của đời người (eight stages of psychosocial development). Erikson cho rằng mỗi giai đoạn phát triển đều có một nhiệm vụ cần hoàn thành. Khi trải qua mỗi giai đoạn thì chúng ta định hình được điểm mạnh hoặc điểm yếu của tính cách dựa trên sự phát triển diễn ra trên giai đoạn đó. Để mô ta điều này, Erikson đưa ra khái niệm Sự khủng hoảng bản sắc, đó là điều không thể tránh khi mà những người trẻ sẽ trải nghiệm sự xung đột khi lớn lên và biến đổi để trở thành những người trưởng thành.

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson

1. Từ khi sinh ra – 12 tháng tuổi: Giai đoạn Tin tưởng (trust) >< Nghi ngờ (mistrust), phát triển mạnh về Hy vọng

2. Từ 1 – 3 tuổi: Giai đoạn Tự chủ >< Xấu hổ và Ngờ vực (Doubt, phát triển mạnh về ý chí

3. Từ 3 – 6 tuổi: Giai đoạn sáng tạo >< Cảm thấy tội lỗi, phát triển mạnh về mục đích

4. Từ 6 – 11 tuổi: giai đoạn chăm chỉ >< Mặc cảm tự ti, giai đoạn phát triển về năng lực

5. Vị thành niên: giai đoạn Bản sắc >< Nhầm lẫn vai trò, giai đoạn phát triển về trung thành

6. Thanh niên: Giai đoạn gắn bó >< Cô lập, phá triển mạnh về yêu thương

7. Trung niên: Giai đoạn về năng lực giáo dục thế hệ sau >< Trì trệ, phát triển về chăm sóc

8. Tuổi già: Giai đoạn về viên mãn > < Tuyệt vong, phát triển về thông thái

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của con người

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của con người

Erikson cho rằng những năm tháng đầu đời mẫu hình phát triển sẽ quy định hoặc ảnh hưởng tới hoạt động và tương tác của một con người trong suốt phần đời còn lại. Ba giai đoạn đầu đời là các “cửa sổ cơ hội” hoặc lịch trình phát triển. Chúng báo cho ta biết khi nào thì bộ não sung sức nhất để có thể tiếp nhận những dạng thức học tập đặc thù.

Dưới đây là ba giai đoạn đầu đời bởi đây là giai đoạn ảnh hưởng tới trẻ trong những năm tháng ấu thơ.

Tin tưởng đối lập với Nghi ngờ

Nhiệm vụ của trẻ trong giai đoạn này là phát triển cảm giác bản thân mình, tin tưởng người khác và tin tưởng thế giới xung quanh. Sự tin tưởng với hai thành phần: phần bên ngoài là niềm tin cho rằng những người lớn quan trọng với trẻ sẽ hiện diện để đáp ứng nhu cầu của trẻ và phần bên trọng là niềm tin vào  năng lực bản thân có thể tạo ra sự thay đổi và đương đầu với tình huống. Những đứa trẻ thích ứng thành công giai đoạn này sẽ tiến đến năm thứ 2 của cuộc đời với cảm giác chắc chắn rằng thế giới là nơi tốt đẹp để tồn tại. Khi có sự gắn bó đứa trẻ cảm giác an toàn và thoải mái, ngừoi lớn chính là điểm tựa để bé khám phá xung quanh, khi gặp bất kỳ sự đe doạ, bất thường thì chúng cần quay trở lại vòng tay của người chúng tin tưởng thật nhanh để cảm thấy thoải mái và được bảo vệ.

Điểm phổ biến của những đứa trẻ thiếu sự gắn bó với người quan trọng thì chúng sẽ không phát triển được khả năng thấu cảm. Khi nhu cầu không được đáp ứng, chúng không phát triển sự tin tưởng vào bản thân hoặc thế giới xung quanh.

Erikson đưa ra ba hoạt động hỗ trợ khi phát triển sự tin tưởng là cần:

  • bế khi cho trẻ ăn (mỉm cười, cưng nựng và trò chuyện, không nên nói chuyện với người khác, dùng điện thoại hoặc thờ ơ với trẻ,…)
  • Đáp ứng lại những dấu hiệu khó chịu của trẻ
  • Hỗ trợ sự gắn bó của trẻ thông qua công việc chăm sóc chính

Sự tự chủ đối lập với xấu hổ và nghi ngờ

Nhiệm vụ của giai đoạn này là thu được cảm giác về sự tự chủ độc lập mà không phải chịu cảm giác xấu hổ hoặc nghi ngờ. Trẻ thích nghi được sẽ có cảm giác mạnh mẽ về bản thân, chúng có khả năng tách biệt với cha mẹ một cách tự tin hoặc người chăm sóc chính trong khoảng thời gian nhất định. Giai đoạn này đôi khi trẻ muốn độc lập một cách dữ dội trong chốc lát rồi sau đó lại quay lại bám víu nũng nịu, tức trẻ đối mặt với thách thức ôm giữ và buông bỏ. Việc ôm giữ và buông bỏ đều có thể là nguồn xung lực mang tính tích cực và tiêu cực trong hành vi con người. Sự ôm giữ có tể mang tính huỷ hoại (không chịu nhượng bộ, không chịu hợp tác) hoặc mang tính xây dựng (gắn bó với người đặc biệt với mình, can đảm đương đầu với nghịc cảnh hoặc bền bỉ kiên trì). Sự buông bỏ có thể mang tính huỷ diệt (cơn thịnh nộ, mất kiểm soát khi giận dữ, đánh đấm, cắn xé). Nó cũng có thể mang tính xây dựng như hợp tác, chia sẻ đồng tình. Một lần nữa đây lại là vấn đề sự cân bằng.

Erikson và lý thuyết giai đoạn tâm lý con người

Erikson và lý thuyết giai đoạn tâm lý con người

Erikson cho rằng những đứa trẻ trong tuổi chập chững biết đi (toddler) đều cố gắng cân bằng giữa ôm giữ và buông bỏ và một trong những chướng ngại lớn đối với trẻ đó là sự kiểm soát thái quá của người lớn, cản trở hoặc cưỡng lại yêu cầu ngày càng độc lập của trẻ. Giai đoạn này là thời điểm quan trọng trong sự phát triển vì kết quả của nó sẽ được định hình ở phạm vi rộng lớn, tỷ lệ yêu và ghét, hợp tác hay thiếu hợp tác, tự do thể hiện hoặc dồn nén cảm xúc trở thành một phần bản chất con người.

Ở giai đoạn này Erikson tin rằng người lớn cần nuôi dưỡng tính độc lập của trẻ bằng cách:

  • Đưa ra cho trẻ những lựa chọn đơn giản
  • Không đưa ra những lựa chọn sai
  • Thiết lập những giới hạn rõ ràng, thống nhất và hợp lý
  • Chấp nhận sự dao động của trẻ giữa sự tự lập và lệ thuộc, xác nhận với trẻ cả hai đó đều tốt cả.
Đưa ra những lựa chon đơn giản:
  • Sắp xếp các hoạt động, vật dụng mang tính lưạ chọn (giá để đồ thấp sao cho bé tự lấy đồ mà không cần sự trợ giúp, cần có nhiều đồ chơi giống nhau vì sự chia sẻ là kỹ năng chưa được phát triển ở độ tuổi này,
  • Tránh cho trẻ muốn chơi một lúc nhiều thứ, thừa nhận cảm xúc của trẻ kiểu câu như:”mẹ biết con muốn ra ngoài ngay bây giờ, mẹ cũng muốn chúng ta ra ngoài, chúng ta ra ngoài sau khi thay tã đã nhé”,
  • Dùng các câu hỏi lựa chọn vừa tầm như “con muốn A hay B”
Loại bỏ lựa chọn sai:
  • Không dùng các câu hỏi tu từ, cố gắng diễn đạt về việc Làm thế nào chứ không phải liệu là có hay không, thế này hay thế kia. Ví dụ: “Bây giờ chúng ta sẽ ra ngoài, con muốn mẹ giúp con mặc áo khoách hay muốn tự mặc?” Tức việc “ra ngoài” là không thể lựa chọn, mà trẻ lựa chọn tự mặc đồ hay nhờ giúp.
Đặt ra những giới hạn rõ ràng

Giai đoạn này cuộc đấu tranh của trẻ giữa kiểm soát bên trong và kiểm soát bên ngoài rất mạnh mẽ, trẻ chủ yếu làm việc dựa trên cảm thức về bản thể của chính mình mà những cái khác vẫn còn sơ khai. Chúng có thể đẩy, đánh mọi vật, vì thế người lớn cần trợ giúp trẻ trong giai đoạn này, khi  những giới hạn (môi trường bên ngoài vốn được người lớn đặt ra rõ ràng thì trẻ có thể học được cách kiểm soát bên trong)

Chấp nhận các nhu cầu dao đông giữa độc lập và phụ thuộc

Trẻ có thể làm việc một cách rất bướng bỉnh và để trẻ làm theo ý mình giai đoạn này rất quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ, trừ khi trẻ đẩy mình vào nguy hiểm.

Sáng tạo đối lập với mặc cảm tội lỗi

erik-erikson-stages-of-development-11-638

erik-erikson-stages-of-development-11-638

Đây là giai đoạn cối của lý thuyết Erikson về những năm thơ ấu đầu đời của trẻ lên 4 lên 5. Giai đoạn này trẻ tràn đầy năng lượng và sẵn sàng học hỏi. Chúng thường quên nhanh lỗi chúng vừa mắc phải nhưng cũng sẵn sáng lắng nghe và học hỏi từ giáo viên, cha mẹ và từ trẻ khác. Nếu trẻ vượt qua giai đoạn 2 thành công thì giai đoạn 3 trẻ rèn được tính tự chủ, đỡ bướng bỉnh.

Trẻ giai đoạn này sẽ hướng đến việc làm thế nào để mọi việc hoàn thành hơn là kiểm soát bản thân, chúng tin tưởng bản thân có thể hoàn thành một cách độc lập, chúng có khả năng học hỏi từ những sai lầm mà không cảm thấy tội lỗi về những thứ không diễn ra theo đúng kế hoach. Giai đoạn này, sự phát triển của trẻ có xu hướng phân tách thành 2 hướng: đạt được năng lực mang tính đặc thù của con người hướng tới vinh quang hoặc tới huỷ diệt. Do đó cần hướng trẻ đến những hoạt động mang tính tích cực, đoàn kết tăng độ tự tin cho trẻ.

Chúng ta không nên làm thay cho trẻ, để ý vào các lỗi sai của trẻ trong quá trình phát triển thì cảm thức về tính sáng tạo sẽ biến thành mặc cảm tội lỗi và chán nản hoặc trẻ bị kỳ vọng vượt quá khả năng của chúng bởi người lớn. Để hỗ trợ giai đoạn này, Erikson cho rằng người lớn có thể

  • khuyến khích trẻ tự lập tối đa có thể
  • Tập trung chú ý vào thành quả trẻ đạt được khi thực hành kỹ năng mới thay vì lỗi sai
  • đặt ra các kỳ vọng phù hợp khả năng riêng của trẻ
  • Xây dựng chương trình học tập trung vào thực tế và vào việc thực hiện hoạt động

Nguồn: Các lý thuyết về tâm lý trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget và Vygotsky – Carol Garhart Mooney. (Thaihabooks)

phuong phap Shichida

Trích lược về Giáo dục trẻ theo phương pháp Shichida

trong cuốn “Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ dưới 7 tuổi theo phương pháp Shichida (phần tiếp)

Xem phần 1

Makoto Shichida sinh năm 1929 tại tỉnh Shimane, Nhật Bản, ông là tiến sỹ giáo dục, hiệu trưởng Viện giáo dục trẻ em Shichida. Năm 1997, ông được trao giải thưởng Dịch vụ Văn hoá-xã hội của Hiệp hội phát triển Văn hoá Nhật Bản dànha cho cá nhân có nhiều thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực gồm Nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và phúc lợi xã hội. Ngoài ra Hội đồng Khoa học thế giới đã đánh giá phương pháp giáo dục Não phải của M. Shichida là học thuyết giáo dục tốt nhất và được nhận Huân chương Hiệp sỹ của tổ chức hoà bình thế giới vì sự cống hiến xuất sắc.

Hiện ở khắp nước Nhật có 400 lớp nuôi dạy theo Phương pháp Shichida, ngoài ra lớp còn mở rộng ra toàn thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..

Text-Divider

Nuôi dạy con từ 0 – 1 tuổi

Phương pháp Shichida nhấn mạnh rằng cha mẹ không nên bỏ qua giai đoạn đoạn từ 0-1 tuổi của trẻ vì đây là thời kỳ con có nhiều biến chuyển nhất, Makoto Shichida đã chia thời kỳ này thành 4 giai đoạn nhỏ: từ khi chào đời – 3 tháng, 4-6 tháng, 7-10 tháng và 11-12 tháng.

Giai đoạn 1: từ khi chào đời đến 3 tháng tuổi

Đây là giai đoạn năng lực tiếp nhận thông tin bên ngoài của bé phát triển mạnh nhất, cha mẹ nên sáng tạo những cách tác động đến 5 giác quan chính của bé: thị giác – thính giác – xúc giác – vị giác – khứu giác. Phương pháp Shichida đề xuất một số cách như:

Thị giác:

  • đặt xung quanh giường những bức tranh đẹp, nổi tiếng trên thế giới
  • trang trí ngôi nhà với đồ vật nhiều màu sắc (chậu hoa, đồ chơi) để quanh con luôn có màu sắc tươi sáng
  • khi 1 tháng tuổi cố gắng giúp con luyện mặt mỗi ngày 3 phút với các ô vuông đen trắng (lúc đầu 5s – 60-90s). Màu sắc ưa thích giai đoạn này là màu sắc có độ tương phản cao -> vòng tranh trí màu cơ nhỏ (kích thước 6×6 hoặc 2×2 cm) –> bảng chữ cái A, I, U, E, O,… để con quen dần mặt chữ, mỗi ngày đọc con nghe từ 2-3 phút,

Thính giác:

  • nghe các ca khúc nhẹ nhàng, mỗi ngày khoảng 3 lần, mỗi lần 15 phút với âm lượng vừa phải (không cho con nghe âm thanh từ máy móc trong thời gian dài), trò chuyện lắc lư trên đùi theo điệu nhạc hoặc giữ nách nâng lên nâng xuống..)
  • cho con nghe các câu chuyện đa dạng, sử dụng phương pháp lặp đi lặp lại
  • trò chuyện lặp đi lặp lại từ vựng

Xúc giác, vị giác, khứu giác: bú sữa, dùng băng gạc thấm nước ấm, lạnh, ngọt, cay cho bé ném thử một tí

Lực cầm nắm: cho con tập cầm nắm khi mới chào đời

2. Giai đoạn từ 4-6 tháng tuổi

Phương pháp Shichida

Phương pháp Shichida

Giai đoạn này trẻ có thể nhìn khoảng cách 3m, tay có thể nắm một cách có ý thức, theo phương pháp Shichida, cha mẹ có thể phát triển các giác quan của trẻ thông qua một số hình thức sau:

Thị giác:

  • cho con xem các bức tranh đồng thời kể chuyện về bức tranh đó
  • khi đi dạo chỉ cho con càng nhiều hình ảnh ấn tượng càng tốt, nói cho con biết đó là cái gì, gọi tên các đồ vật trong nhà lặp đi lặp lại nhiều lần
  • thử phản xạ của con với ánh sáng đèn để phát hiện tật ở mắt

Thính giác:

  • đưa con đi công viên vườn hoa để nghe âm thanh phong phú của tự nhiên
  • cho con nghe âm thanh nhỏ trống lắc, nói chuyện với con

Vận động: cho con đu trên người để vận động cơ cổ

3. Giai đoạn 7-10 tháng

Thị giác: cho con nhìn các chuyển động đơn giản (mở cửa sổ để thấy chuông gió chuyển động), đi dạo nô đùa

Thính giác: duy trì nghe nhạc nhẹ nhàng nhưng cần bổ sung tiếng khác như tiếng chuông kêu, các bài hát ru các nước trên thế giới, âm thanh đài radio, nói chuyện với bé… để bé tập phân biệt âm thanh

Xúc giác: cho con cầm nắm tay, xé giấy, các hành động gõ, ấn quay bằng cách chơi với kệ chữ A

Vận động: để con bò tự do (càng nhiều càng tốt) giúp phát triển cơ bắp và đẩy mạnh khả năng điều tiết vận động

Giai đoạn 4: từ 11- 12 tháng tuổi

Thị giác: xem truyện tranh, dạy bảng chữ cái bằng phương pháp lặp đi lặp lại, nhìn gương, cho con đi dạo, luyện khả năng quan sát bằng trò tìm đồ vật (để  đồ chơi con yêu thích dưới 1 trong 2 chiếc hộp rồi tráo để con tự chỉ ra đồ)

Thính giác:

  • xem thẻ đồ vật, con vật rồi bắt chước tiếng kêu
  • dạy các bộ phận cơ thể
  • chơi gõ, ấn với cá đồ vật (thau nhựa, bóng, bát đĩa nhựa)

Trí tuệ: dạy con vặn dây cót hộp nhạc, lấy khăn che đồ vật để con tìm, đẩy bóng đi lại xem con có đá lại ko.. Trí tuệ của trẻ phát triển thông qua hoạt động bắt chước: khẩu hình miệng, vỗ tay, xoa tay, ănm tay, gõ hai món đồ chơi vào nhau, tung hứng bóng…

Chữ cái và ngôn từ: giai đoạn này cần phải phát triển ngôn từ một cách rõ ràng, cha mẹ cần không được nản lòng hoặc bỏ cuộc giữa chừng

Nuôi dạy con từ 1 – 2 tuổi

Bí ẩn não phải - M.Shichida

Bí ẩn não phải – M.Shichida

Makoto Shichida chỉ ra rằng trong giai đoạn này trẻ tiếp nhận 3 năng lực quan trọng: khả năng đi-đứng, ngôn ngữ và khả năng xử lý các kỹ năng đơn giản. Trẻ cần có một môi trường tự nhiên để phát triển khả năng ưu việt của mình, nhiệm vụ của cha mẹ là phải tạo không gian đó cho con vì tính hiếu ký của trẻ là cực mạnh, hạn chế tính hiếu kỳ là phản tác dụng và không giúp phát triển các tố chất của con.

Giai đoạn này trẻ biết khám phá mọi vật, thử nghiệm các quy luật vật lý như trọng lức, quỹ đạo, quán tính, sự co giãn để kiểm chứng (giật khăn bàn khiến chén bát đổ vỡ…). Cha mẹ không nên nặng lời cấm đoán mà dẫn dắt con chơi một trò khác,

Giai đoạn này đồ chơi có ý nghĩa rất quan trọng, đồ chơi cần phải những món đồ giúp con học hỏi và tiếp thu được điều gì đó, và cùng một lúc không nên cho con tiếp xúc quá nhiều đồ chơi nhằm giảm tính mất tập trung, không giữ được bình tĩnh của trẻ.

Một số trò chơi mà phương pháp Shichida đưa ra như sau:

  • những trò mềm, cứng, tròn vuông có trọng lượng hình dạng khác nhau
  • tập nèm bóng, trượt xe trên mặt phẳng nghiêng, thả lông vũ rơi tự do, chồng cốc, hình lên nhau theo thứ tự trên-dưới, cao-thấp, trong-ngoài, lớn-nhỏ, chơi thổi bong bóng để dạy về không khí,lực hấp dẫn
  • dạy trẻ về màu sắc
  • búp bê, thú nhồi bông nuôi dưỡng tính xã hội của trẻ
  • làm nhà ở bằng thùng các tông, chơi cầu thanh gỗ 3 bậc lên xuống…
  • trò chơi tìm kho báu nhằm phát triển trí thông minh cho trẻ: giấu đồ vật ngay trước mặt con rồi để con đi tìm (hình thành khái niệm tư duy rằng nơi mắt không nhìn thấy thì vẫn có đồ vật)
  • trò bắt chước: làm theo các động tác của cha mẹ như sờ mắt, mũi, nhéo tai, mỉm cười,.. tập viết chữ,
  • cho con đi chơi cùng các bạn đồng trang lứa nuôi dưỡng tính xã hội
  • tiếp tục cho con xem sách tranh ảnh (ehon) trong thời kỳ này (bí quyết thúc đẩy sở thích đọc sách của bé)

Đây cũng là giai đoạn phát triển chí hướng nên cha mẹ hãy nỗ lực để con không rơi vào cảm giác thất bại. Đặc điểm của trẻ là dần tách khỏi cha mẹ, tự lập, tự phát, khả năng phát triển tư duy nhưng chưa kiểm soát đầy đủ tốc độ chạy nhảy, ăn uống hay suy nghĩ (như có thể chạy thật nhanh nhưng khó rẽ hướng khi cần), do đó điều quan trọng là không để trẻ rơi vào cảm giác thất bại.

Đồ chơi cho con giai đoạn này có thể chia thành 5 loại:

  • Thú nhồi bông: khi mẹ vắng nhà phải để bên cạnh trẻ mọt loại thú nhồi bông để mang lại cảm giác yên tâm, xoa dịu trẻ
  • Đồ chơi khơi giợ trí tưởng tượng: búp bê – nhà búp bê, lego, cát, con rối đơn giản
  • Đồ chơi mô phỏng: bán đồ hàng, xe tải, tàu hoả, mô hình thị trấn, làng mạc, nông trường
  • Dụng cụ thể thao: xe ba bánh, xích đu, cầu thang, cầu trượt, đệm lò xo cỡ nhỏ, bóng
  • Đồ chơi phát triển trí tuệ: locking tower, xếp hình từ nhỏ-lớn, timeshock, lắp ghép xe tải, kính lúp, nam châm (đưa trẻ đến bãi cát chơi để khám phá)

Shichida cho rằng giai đoạn này cần thiết phải cho trẻ đọc chữ, kết hợp chữ và tranh một cách từ tốn, kiên nhẫn, bắt đầu mỗi lần 2-3 phút – 5 phút, nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần

Nuôi dạy trẻ từ 2-3 tuổi

Bí ẩn não phải - M.Shichida

Bí ẩn não phải – M.Shichida

Khi được 2 tuổi, trẻ bước vào thời kỳ tự lập, đây là lúc trẻ muốn rời vòng tay cha mẹ, tự mình làm và học hỏi. Trẻ không thể ngồi yên một chỗ, chạy loanh quanh với một năng lượng dồi dào hệt như vận động viên. Đây cính là nguồn năng lượng và đam mê học hỏi cảu trẻ. Cha mẹ cần lưu ý ba điều quan trọng: vận động – ngôn ngữ – kỹ năng đơn giản

Các hoạt động cần thiết gồm:

  • tản bộ là một hoạt động hàng ngày, từ 1,5 tuổi trở lên cần cho trẻ đi những bước cự ly dài, không nên ẵm bồng, cho trẻ đi trên cả đường dốc, băng qua cầu, chân bước đều lên xuống cầu thang, lăn bóng theo đường chéo để trẻ đi theo, tập chạy (đầu tiên 3m – 10m – 15m), từ 2,5 tuổi có thể chơi giàn nhún để học giữ thăng bằng, tập bật
  • phát triển ngôn ngữ: phát âm chuẩn, rõ ràng,hỏi các câu hỏi định hướng như : con muốn… từ phía nào, con muốn mặc ao/quần/váy… màu xanh/đỏ/.. nào? Dạy con các bộ phận chi tiết trên cơ thể, đồ vật,..lượng từ…
  • mua sách cho con đọc, một ngày có thể từ 5-10 quyển. Đọc thơ, đồng dao, truyện cổ tích cho trẻ
  • tích cực sử dụng các từ ngữ thể hiện nhân quả
  • tập các công việc sử dụng kỹ năng đơn giản như buộc dây giày, rửa tay, cài nút, thắt nơ, tập nặn đất sét…
  • tham gia phụ các công việc nhà đơn giản, khen ngợi trẻ, dọn dẹp đồ chơi vào đúng vị trí
  • trò chơi xây nhà, lắp ráp, lego
  • phân loại vật như đậu, cúc áo,kẹp giấy,…

Hai tuổi chính là khoảng thời gian thiên tài của trẻ, đây là khoảng thời gian phát triển nhanh nhất của trẻ, xây dựng những năng lực nền tảng do đó cha mẹ không nên lơ là giai đoạn này. Trẻ có trí nhớ siêu việt với âm thanh,Vì thế giai đoạn này tập luyện trí nhớ cho trẻ càng khó càng tốt: như nhớ cờ các quốc gia, các loại xe ô tô, ghi nhớ tên đường, ga tàu, bài hát – ca sỹ, quan sát sự vật nhỏ như đàn kiến, đống lá, vườn thú, thuỷ cung, biển, hỏi con thấy những gì sau các chuyến đi, nghe các bài hát ru của các nước.

Nuôi dạy trẻ từ 3-4 tuổi

Đây là giai đoạn thuỳ trán tức khu vực phát triển về mặt tư duy, suy nghĩ của trẻ phát triển mạnh nhất. Vì thế, cần chú trọng thêm vào việc dạy trẻ tự suy nghĩ.

Các hoạt động hữu ích:

  • trò chơi lắp ghép (lắp ghép các mảng tam giác đỏ, vàng xanh thành các hình khác nhau là tốt nhất cho độ tuổi này)
  • các trò luyện kỹ năng khéo léo như cắt gián, xếp giấy, tạo hình bầng dây, nút thắt,…
  • cho con trải nghiệm các hoạt động đời sống thực để con tập tự lập một phần như đi chợ, siêu thị, leo núi, tham quan du lịch, thư viện,… (cha mẹ hãy cho con tường thuật lại những trải nghiệmriêng bằng ngôn từ trừu tượng, liên tưởng
  • cho đọc truyện tranh , mỗi ngày nhất định cha mẹ đọc cho con mọt vài cuốn

Đây cũng là giai đoạn tốt để học ngoại ngữ, tạo môi trường giúp trẻ phát triển toàn diện các kỹ năng như hội hoạ, vận động, tưởng tượng, ghi nhớ một cách tự nhiên nhất. Mỗi ngày cha mẹ dành khoảng 20-30 phút để dạy con những điều phù hợp.

Các thiên hướng sở thích của trẻ giai đoạn này sẽ định hình trí lực và khả năng tập trung của trẻ. Điều quan trọng giáo dục trẻ em là giáo dục nhân cách. Nhân cách của mỗi trẻ về bẩm sinh là hoàn toàn khác nhau, cha mẹ nên để trẻ đi những bước đầu tiên của mình một cách tự nhiên nhất.

Nuôi dạy trẻ từ 4 tuổi trở lên

Vào độ tuổi này, các tế bào não của trẻ bắt đầu tiếp nhận kích thích từ thế giới bên ngoài và ở giai đoạn đầu, sẽ phát triển các dạng tế bào não gọi là tế bào matrix (ma trận). Lúc này càng tiếp nhận được nhiều kích thích, các tế bào não sẽ càng thay đổi nhiều tế bào có DNA trội, sau đó dần dần phân hoá thành 2 loại tế bào gồm tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đêm GLial. Điều quan trọng là các tế bào thần kinh nơ-ron sẽ không tăng thêm nữa, bộ não trẻ đã bước vào giai đoạn hoàn thiện. Thời kỳ từ đây trở về sau, trẻ luôn phải sáng tạo.

4 tuổi là giai đoạn trẻ có năng lực sáng tạo phong phú hơn, song lại ham chơi. Tiến sỹ tâm lý học giáo dục E.P. Trance của đại học Georgia, Mỹ cho biết: “Năng lực sáng tạo của trẻ phát triển nhanh chóng khi bước vào giai đoạn 3 tuổi, phát triển tối đa trong giai đoạn 4 tuổi đến 4 tuổi rưỡi và mai một khi trẻ lên 5 tuổi.

Một số cách Shichida đưa ra bồi dưỡng năng lực sáng tạo:

  • khi con đặt câu hỏi thì cần phải lắng nghe và cùng con tìm ra câu trả lời, dạy con giải đáp thắc mắc
  • đặt ra những câu đố thú vị để con đi tìm câu trả lời
  • tăng cường năng lực tập trung, khi trẻ đang tập trung thì cha mẹ không được chen vào
  • chọn các trò chơi trí tuệ (như lắp ghép)
  • không nên để con lúc nào cũng thấy chán chường, khen ngợi con
  • cho còn trải nghiệm thật nhiều vào những việc mang tính nghệ thuật hay sáng tạo
  • giàu kiến thức là nền tảng giúp con tìm tòi cái mới. đọc cho con nhiều sách, tặng sách liên quan đến khoa học
  • cư xử với con như người lớn
  • cho con quyền quyết định những hoạt động của bản thân (ăn uống, mặc hoặc đi đâu đó)
  • cho con trải nghiệm “màn trình diễn” của bản thân (tức trải nghiệm những việc con đã làm thành công bằng chính sức lực của mình)
  • đừng khiến con sợ thất bại
  • dạy con biết vui vẻ tiếp thu những trải nghiệm lần đầu tiên và mạnh dạn hơn trong mọi việc.
Prof.-Shichida

Trích lược về Giáo dục trẻ theo phương pháp Shichida

trong cuốn “Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ dưới 7 tuổi theo phương pháp Shichida

Makoto Shichida sinh năm 1929 tại tỉnh Shimane, Nhật Bản, ông là tiến sỹ giáo dục, hiệu trưởng Viện giáo dục trẻ em Shichida. Năm 1997, ông được trao giải thưởng Dịch vụ Văn hoá-xã hội của Hiệp hội phát triển Văn hoá Nhật Bản dànha cho cá nhân có nhiều thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực gồm Nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và phúc lợi xã hội. Ngoài ra Hội đồng Khoa học thế giới đã đánh giá phương pháp giáo dục Não phải của M. Shichida là học thuyết giáo dục tốt nhất và được nhận Huân chương Hiệp sỹ của tổ chức hoà bình thế giới vì sự cống hiến xuất sắc.

Hiện ở khắp nước Nhật có 400 lớp nuôi dạy theo Phương pháp Shichida, ngoài ra lớp còn mở rộng ra toàn thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..

1.Bộ não trẻ hoạt động ưu việt nhất ở giai đoạn sơ sinh

Cùng quan điểm với nhà giáo dục trẻ em vĩ đại người Ý, bà Maria Montessori, Makoto Shichida cho rằng bộ não của trẻ em hoạt động tốt nhất ở giai đoạn trẻ sơ sinh với năng lực hấp thụ vô cùng kỳ diệu. “Năng lực hấp thụ (khả năng tế bào thần kinh hấp thụ) này mất đi ở người lớn nhưng lại là một năng lực kỳ diệu có thể sánh ngang năng lực sáng tạo của thần linh. Song do trẻ tiếp nhận các tác động, kích thích của môi trường sống từ khi sinh ra và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xung quanh nên khả năng hấp thụ này sẽ nhanh chóng biến mất”. Năng lực này hoạt động mạnh mẽ nhất ở giai đoạn từ 0 – 2 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau giai đoạn đó, dù làm cách nào cũng không thể có lại năng lực này.

shichida-records

Shichida method -records

Tuy nhiên ở giai đoạn khả năng hấp thụ của não trẻ hoạt động tuyệt với đến mức thiên tài mà không được cha mẹ biết đến, vì không nhận được kích thích tác động có tính giáo dục từ cha mẹ, bộ não trẻ em sẽ không thể phát huy tối ưu và năng lực này biến mất, khiến bộ não bị thoái hoá nhanh chóng, sau này dù trẻ cỏ nhận được những tác động có tính giáo dục ưu tú đến đâu, năng lực đó sẽ không khơi dậy lại được.

Sau 6 tháng chào đời, những cấu trúc cơ bản của não trẻ sẽ thành hình. Theo nghiên cứu của Noam Chómky về những đặc tính bẩm sinh của trẻ, có thể não trẻ có những cấu trúc chức năng tiếp thu ngôn ngữ nhanh chóng, vậy nên hãy sử dụng nhiều ngôn từ đa dạng để dạy trẻ từ lúc chào đời. Ở giai đoạn này trẻ không nắm bắt và ghi nhớ ý nghĩa mà chỉ đơn giản là đưa sau vào tiềm thức vì thế cha mẹ đừng bỏ qua giai đoạn 6 tháng ngắn ngủi chỉ để bé yên lặng ngủ, hoặc nhàm chán ngoan ngoãn mà không có những tác động phù hơp.

Shichida cho rằng cần phát triển các tác động, kích thích trí tuệ tích cực bởi trẻ giai đoạn 0-1 tuổi có thể lĩnh hội những tố chất thiên tài khi được đặt trong một môi trường giáo dục bậc cao vì sau sinh bé có năng lực hấp thu bí ẩn. Tuy nhiên nếu không gặp được môi trường thích hợp thì năng lực này sẽ nhanh chóng mất đi.

2. Hai mô hình học tập của trẻ

Trẻ nhỏ học tập hoàn toàn khác người lớn, Shichida đưa ra cấu trúc hai tầng của việc học tập của trẻ gồm kiểu học nhớ y nguyên và kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu học nhớ y nguyên

Trẻ sẽ không cảm nhận được màu sắc bằng cách phân biệt trừu tượng màu xanh, màu đỏ mà sẽ cảm nhận tổng hoà các màu sắc phức tạp giống như ta cảm nhận gương mặt người khác. Mô hình tri giác thế giới bên ngoài của trẻ nhỏ, đặc biệt là từ 0-1 tuổi không phải phát triển từ đơn giản đến phức tạp mà là sự tri giác những kích thích nhận một cách nguyên vẹn, không liên quan đến độ phức tạp hay đơn giản, vì thế kích thích tri giác cho trẻ ở giai đoạn này nên là những kích thích phức tạp. Các kích thích này không được quá mức nhưng phải được lặp đi lặp lại.

Kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu nhớ này thể hiện trong việc học từ vựng, cha mẹ cần thường xuyên nói chuyện với trẻ về các vấn đề phức tạp và lặp đi lặp lại các từ vựng gần gũi với trẻ. Những quan sát thực nghiệm cho thấy nếu cho trẻ học nghe, nuôi dưỡng ngôn ngữ một cách phong phú đa dạng thì trẻ sẽ nói rất nhanh, nội dung câu nói trở nên mạch lạc rõ ràng,

Để trẻ nhớ được một từ, trẻ có thể sẽ phải lặp đi lặp lại từ đó hàng ngàn lần, tuy nhiên ở từ tiếp theo thì chỉ cần một phần nhỏ nỗ lực đó, và phản ứng với kích thích tiếp theo sẽ rất nhanh chóng, nhờ đó thần kinh phản ứng sẽ phát triển mạnh mẽ. Mạch thần kinh các phát triển thì càng trở nên tối ưu.

3. Quá trình phát triển năng lực của trẻ

phương pháp Shichida

Phương pháp Shichida

Thời kỳ thứ 1 (từ 0-6 tháng): thời kỳ phát triển năng lực tiếp thụ (cảm giác)

Thính giác phát triển trước nhất, tai trẻ mẫn cảm và phản ứng với các tác động từ môi trường xung quanh. Thị giác: trẻ có thể tập trung cả 2 mắt vào một điểm tuy nhiên sự vận hành chưa đầy đủ, đến 3-4 tháng cơ xoay của nhãn cầu phát triển đầy đủ thì thị giác mới bắt đầu nhạy cảm nhất. Đây là giai đoạn cha mẹ cần cho xem các bức tranh đẹp. Xúc giác: tháng thứ 5 mới lan rộng khắp khi phát triển khả năng chỉ trỏ. Khứu giác và vị giác: từ tháng thứ 5 mới bắt đầu mẫn cảm.

Nhìn chúng, giai đoạn này nên cho trẻ nghe hát ru thì thính giác sẽ khắc ghi sâu hơn, mạch thần kinh cũng trở nên phức tạp. Giai đoạn này trẻ thường suy dinh dưỡng học tập. Cha mẹ nên:

  • hát ru, đọc các bài thơ ca có nhịp điệu
  • cho bé ngắm các bức danh hoạ, tranh đẹp
  • nghe nhạc hay
  • xem truyện tranh

Thời kỳ thứ 2: (6 tháng đến 3 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực biểu đạt (năng lực sáng tạo)

Đây là giai đoạn nuôi dưỡng các năng lực thực sự của trẻ, cha mẹ cần tạo một môi trường vui chơi học tập phong phú như đồ chơi (chơi con thú thì mẹ kết hợp cho trẻ xem tranh con thú để nắm bắt các điểm tương đồng), học vẽ, đi chơi công viên thường xuyên, đọc truyện tranh…

Thời kỳ thứ 3 (từ 3-6 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực tư duy (kỹ thuật)

Trẻ phát triển mạnh về năng lực tư duy, thời kỳ này cha mẹ cần tập trung nuôi dưỡng tư duy để tránh bị đình trệ. Các năng lực này diễn ra ở khu vực não từ tai đến phía trước thuỳ trán. Các kích thích đến từ bên ngoài sẽ được tiếp nhận tại thuỳ chẩm thông qua các giác quan như tai, mắt mũi và sau đó thuỳ trán sẽ chuyển hoá các yếu tố này thành hành vi, biểu đạt chúng thông qua hệ thống cơ. Ở giai đoạn 0-3 tuổi, thuỳ chẩm phát triển nhưng đến giai đoạn này thuỳ trán ai phát triển cho nến cha mẹ đẩy mạnh việc giáo dục về trí nhớ thì không phát triển được trí năng của trẻ.

Đây là giai đoạn cha mẹ nên cho  trẻ chơi lặp đi lặp lại nhiều lần:

  • chơi các trò chơi ghép hình, thả hình khối, xếp khối. (ghép hình từ 4 miếng – 10 – 20 – 40 -60 tăng dần độ khó)
  • cắt giấy, xếp giấy
  • tập đàn piano hoặc violin.

Khi trẻ mới chào đời, chỉ khi nhận được các kích thích từ môi trường xung quanh thì tế bào não của trẻ mới kết nối và vận hành được. Khi đó việc lặp đi lặp lại là rất quan trọng bởi nó tạo ra sự kết nối giữa các tế bào, hình thành các mạch thần kinh giúp cho sự kích thích được thông suốt. Nếu sự kích thích yếu ớt (môi trường giáo dục nghèo nàn) thì tế bào não sẽ phát triển kém, cho đến 6 tuổi thì mạch thần kinh đã hình thành thì không điều chỉnh được nữa. Sau 6 tuổi, dù trẻ học có tốt đi thế nào nữa cũng không tổ chức lại được cấu trúc của nó và không còn chỗ để phát triển các mạch thần kinh giúp truyền các tác động, kích thích một cách tốt đẹp.

Như vậy, để hình thành các mạch thần kinh có chất lượng nhờ giáo dục ở giai đoạn 0 tuổi và đẩy nhanh sự phát triển năng lực thì không thế không chuẩn bị những kích thích, tác động phù hợp.

Montessori method

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :, phần 2, phần 3, phần 4

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4. Giai đoạn mẫn cảm

#5: Sự khác biệt giữa các cá thể

#6. Lớp học được chuẩn bị theo phương pháp Montessori

#7: Sự tự do lựa chọn

#8. Tự do và kỷ luật

#9 Quá trình đạt đến sự tập trung và độc lập của đứa trẻ (Normalization)

Định nghĩa chính xác của Montessori về quá trình “Normalization” đó chính là trạng thái tinh thần bình thản và tập trung thông qua toàn tâm với một hoạt động của đứa trẻ. Maria Montessori phát hiện rằng có một xu hướng nội tại về khả năng tập trung cao độ và khả năng thể hiện các hành vi một cách yên tĩnh thực sự là một điều “bình thường” (normal) trong mỗi đứa trẻ. .

Có thể bạn cho rằng: đó không giống con của tôi. Nhưng bạn hãy tin tôi, tất cả chúng ta đều nghĩ rằng một đứa trẻ phải rất nghịch ngợm, hoạt náo và chuyên gia bày bừa. Từ “yên tĩnh” và “đứa trẻ” dường như không gắn liền nhau. Tuy nhiên đây là một kết quả ngạc nhiên: bà Maria Montessori đã nghĩ tương tự cho đến khi bà loại bỏ tiền đề này và cho phép đứa trẻ thế hiện những gì chúng có thể làm. Sau đó bà tiến hành quan sát đứa trẻ trong bối cảnh chúng được tự do lựa chọn các hoạt động trong một môi trường được chuẩn bị cẩn thận sẽ trở nên rất yên lặng và hoàn toàn chú tâm vào các hoạt động đó. Chúng sẽ thường xuyên lặp lại một hoạt động nào đó cho đến khi cảm thấy thoả mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Chúng sẽ chú tâm và hấp thu thông tin một cách tự nhiên mà không cần tác động của bên ngoài.

Maria Montessori đã nhận ra điều mà không ai trước đó nghĩ tới: sự yên tĩnh, tập trung va chuyên tâm của đứa trẻ không phải là sự ngoại lệ mà là bản năng tự nhiên của chúng. Đó chính là lý do bà gọi đó là quá trình bình thường (normal). Trên thực tế, những đứa trẻ luôn quấy rối, phá phách mà chúng ta hay bắt gặp chính là do nhu cầu nội tại của chúng không được đáp ứng.

Làm thế nào để đạt được quá trình đó? (How to get to “Normalization?”)

” Thông qua công việc và hoạt động thích hợp mà tính cách của đứa trẻ sẽ có sự biến đổi. Công việc ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ cũng tương tự như thức ăn cứu sống một người đang chết đói. Chúng ta quan sát rằng đứa trẻ khi đang hoạt động sẽ thức tỉnh sở thích của nó bộc lộ, mở rộng hé lộ những đặc tính không thể ngờ tới của đứa trẻ đó, khả năng của trẻ sẽ đem đến cho nó sự thoả mãn cao độ và trẻ sẽ cười rất thích thú và ngọt ngào” ~ Dr. Maria Montessori

Khi ở nhà hay ở trường, trẻ cần phải được chơi các trò chơi hoặc các bài học để đáp ứng nhu cầu phát triển của mình. Và nó cần tự do để lựa chọn những gì mà bản thân nội tại trẻ thích thú. Cha mẹ và giao viên cần cố gắng hết sức để thoả mãn nhu cầu sẽ thông qua việc không ngừng quan sát và chuẩn bị môi trường vui chơi cho trẻ. Khi trẻ tìm thấy bài học phù hợp với mình đúng thời điểm thì bạn sẽ thấy trẻ có sự biến chuyển. Sự thay đổi này sẽ mang đến sự hào hứng với hoạt động, khả năng tập trung cao, cảm giác bình yên, thoả mãn và vui thú.

#10. Niềm vui tự sinh (Spontaneous Joy!)

Maria Montessori đã quan sát đứa trẻ trải nghiệm cái mà bà gọi là “niềm vui tự sinh”. Theo Montessori, một đứa trẻ được phát triển toàn diện là đứa trẻ hạnh phúc. Nói cách khác khi đứa trẻ học hỏi xung quanh một cách tự nhiên và phát triển khả năng tiềm ẩn một cách cao nhất thì sẽ đem đến một trang thái hạnh phúc thuần khiết tự sinh.

# Tóm tắt 10 điều trong phương pháp Montessori

Bước thứ 1 chúng ta hiểu được các giai đoạn phát triển của trẻ, trong đó nổi bật là trạng thái bộ não thẩm thấu thông tin, giai đoạn mẫn cảm và sự khác biệt giữa các cá thể. Đó là cách đứa trẻ học hỏi, là con đường mà chúng đi. Trẻ học mọi thứ xung quanh mà không biết chúng đang học, dần dần trải qua các giai đoạn vô thức đến hoạt động có ý thức mà luôn luôn trong trạng thái vui vẻ, yêu thương.

Khi chúng ta hiểu rõ các vấn đề này thì chúng ta có thể tuỳ biến môi trường hoạt động cho trẻ ở nhà hoặc trong lớp học để đem lại cơ hội học hỏi tối đa cho trẻ. Khi xây dựng được môi trường một cẩn thận, đứa trẻ được tự do chọn lựa các bài học hoặc hoạt động mình yêu thích, và một cách tự nhiên trẻ sẽ hé lộ cho chúng ta thấy nhu cầu mà trẻ đang cần.

Phương pháp Montessori

Lược dịch “Ten secrets of Montessori” của Age of Montessori

Xem 10 bí mật phương pháp Montessori phần 1 :, phần 2, phần 3

#1: Hai thái cực của con người,

#2: Hỗ trợ cho cuộc sống,

#3: Bộ óc thẩm thấu

#4. Giai đoạn mẫn cảm

#5: Sự khác biệt giữa các cá thể

#6. Lớp học được chuẩn bị theo phương pháp Montessori

#7: Sự tự do lựa chọn

Trong lớp học Montessori, trẻ có quyền tự do lựa chọn những hoạt động chơi được chuẩn bị sẵn một cách cẩn thận. Môi trường trang bị sẵn các trò chơi được xem là yếu tố then chốt! Thông qua sự quan sát cẩn thận cách hoạt động của đứa trẻ, giáo viên và bậc cha mẹ có thể cho con chơi những hoạt động giúp trẻ phát triển tối đa nhất. Bà Maria Montessori biết rằng tất cả đứa trẻ đều có những thế mạnh và sở thích riêng và phương pháp Montessori đem đến cho trẻ quyền tự do chọn lựa để tối đa hoá quá trình học tập thông qua sự khác biệt của các cá thể. Một số người hiểu lầm rằng sự tự do lựa chọn chính là đứa trẻ được quyền làm bất kỳ thứ gì chúng thích hoăc không có một quy tắc nào trong lớp học Montessori. Đây là điều hoàn toàn sai lầm.

Sự độc lập trong ý chí có được bởi sự lựa chọn giữa một mình và tự do, sự độc lập ý chí bởi làm việc một mình và không bị quấy nhiễu. ~Maria Montessori

“Đừng bao giờ giúp một đứa trẻ việc gì mà chúng cảm thấy mình có thể tự làm được” ~  Maria Montessori. Chẳng hạn như mỗi buổi sáng trẻ đến lớp (hoặc ở nhà) và bắt đầu tự lựa chọn bài học. Trẻ được quyền tự do chọn lựa từ những bài học được chuẩn bị sẵn ở các giá thấp hoặc các vị trí trẻ có thể tiếp cận được. Trẻ có thể chọn một bài học/hoạt động mà trẻ cảm thấy quen thuộc, hoặc có thể yêu cầu cái mới. Nếu trẻ lựa chọn cái mới, giáo viên cần hướng dẫn làm thế nào để hoạt động mới này có hiệu quả, hoặc trẻ có thể quan sát những đứa trẻ khác đang chơi. Trẻ có thể chơi một mình hoặc với bạn của mình. Trẻ có thể chơi mãi một trò chơi hoặc sau khi đặt các đồ vật ra khỏi vị trí của nó thì trẻ chuyển sang hoạt động khác. Trên tất cả, giáo viên cần quan sát quá trình chơi của trẻ, chỉ giúp đỡ khi cần thiết và ghi chép lại các bài học/hoạt động để giới thiệu lần tiếp theo.

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

Chúng ta có thể thấy từ ví dụ trên đứa trẻ được trải nghiệm sự tự lựa chọn nhưng không phải tự do hoàn toàn. Tuy nhiên, tại sao sự tự do được lựa chọn lại quan trọng đến vậy? Bởi vì tất cả đứa trẻ đều có khả năng thiên bẩm, một đúa trẻ có thể nhanh chóng học đọc, đứa trẻ khác lại hứng thú một cách tự nhiên với các con số. Đứa trẻ thì rất ưa thể thao hoặc có trẻ thì thiên về âm nhạc và nghệ thuật.

Bạn đã bao giờ để ý rằng khi đứng giữa nhóm những đứa trẻ có tuổi xấp xỉ nhau nhưng không đứa trẻ nào giống nhau? Chúng khác biệt về chiều cao, cân nặng và các mức độ hoạt động của chúng. Một số rụt rè và kè kè bên cạnh bố mẹ trong khi đứa trẻ khác lại thích mạo hiểm.

Bây giờ tiếp tục hình dung rằng chúng ta đặt những đứa trẻ bên cạnh nhau, học cùng một bài học vào thời gian như nhau thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta sẽ bắt gặp một số đứa trẻ thích thú và sẵn sàng học, thế nhưng đối với một số trẻ bài học đó là quá khó hay quá dễ? Vấn đề đơn giản có thể trẻ chưa đến giai đoạn phát triển đó, có thể cần một vài tháng sau nữa? Vậy kỹ thuật một bài học phù hợp cho tất cả ((one fit for all) hầu như bị khuyết thiếu. Có thể đứa trẻ sẽ được lợi từ bài học này còn đứa trẻ khác thì không? Vậy làm thế nào để bạn có thể biết được?

Bản thân chúng ta đã mất đi sự nhạy cảm sâu sắc này và trước sự hiện diện của đứa trẻ mà chúng ta thấy được sự hồi sinh, chúng ta cảm thấy như mình đang chứng kiến sự huyền bí đang được hé lộ. Nó cho thấy một cách tinh tế của việc tự do lựa chọn mà một giáo viên không được đào tạo trong quan sát có thể phá nát chúng trước khi bản thân họ nhận thức được, cũng giống như một con voi đang giẫm nát những bông hoa sắp nở trên đường đi của mình. ~ Maria Montessori

Bà Maria Montessori hiểu được rằng tất cả những sự khác biệt trong cách học và tạo ra một môi trường cho trẻ hàng ngày và lựa chọn điều mà chúng sẵn sàng học một cách phù hợp. Khi đứa trẻ chọn được cho mình các bài học/hoạt động thì nó sẽ đặc biệt thích thủ. Điều này chính là sự mạch bảo của “người thầy” trong con người đứa trẻ đó.

#8 – Tự do và Kỷ luật (Liberty and Discipline)

“Để đứa trẻ làm điều chúng thích khi mà chúng chưa phát triển hết năng lực kiểm soát của mình là đi ngược với khái niệm “tự do”” ~ Maria Montessori

Mặc dù chúng ta nghĩ Tự do và kỷ luật là hai điều đối lập thế nhưng bản chất đó chính là hai mặt của một đồng xu. Chúng ta nghĩ một cách tự nhiên rằng tự do chính là không có nguyên tắc, nhưng theo Montessori bản chất tự nhiên của một đứa trẻ chính là đâu đó chúng thiếu đi các nguyên tắc, đâu đó chúng thiếu cả sự tự do. Sự nhầm lẫn rằng tự do cho phép đứa trẻ làm bất kỳ điều gì chúng muốn rất phổ biến, tuy nhiên các nguyên tắc là một phần không thể thiếu trong phương pháp Montessori khi mà mục tiêu cao nhất chính là dạy cho chúng tính tự giác. Thực tế hình thức quan trọng nhất của kỷ luật chính là đứa trẻ học được tính tự giác.

Sự tự do

“Phương pháp quan sát dựa trên một nền tảng duy nhất – đứa trẻ được phép bộc lộ bản thân một cách tự do và do đó cho chúng ta thấy được nhu cầu và thái độ đối với những điều còn đang ẩn giấu hoặc kìm nén trong môi trường không cho phép chúng dược hoạt động tự phát ” ~ Maria Montessori

Phương pháp Montessori

Phương pháp Montessori

Trong lớp học Montessori, trẻ được tự do lựa chọn các hoạt động dưới sự giám sát cẩn thận. Đây là điều cốt lỗi bởi nếu không có một môi trường được trang bị sẵn chúng ta không thể đem đến cho trẻ sự tự do lựa chọn. Thông qua việc quan sát đứa trẻ một cách cẩn thận, giáo viên và cha mẹ có thể mang đến cho con hoạt động phù hợp giai đoạn phát triển. Từ đó đứa trẻ được chơi các hoạt động mà chúng thấy hấp dẫn nhất phù hợp với giai đoạn mẫn cảm mà chúng đang trải qua.

Kỷ luật và sự tự giác

Cách hiệu quả nhất để khuyến khích tính tự giác là hiểu được nhu cầu trong từng giai đoạn phát triển của trẻ, từ đó chuẩn bị sẵn môi trường đa dạng các hoạt động để đáp ứng các nhu cầu này. Môi trường càng đáp ứng được nhu cầu của trẻ thì càng có nhiều sự tự do lựa chọn, từ đó  trẻ càng học được tính tự giác. Khi nói đến khái niệm kỷ luật trong phương pháp Montessori, trọng tâm chủ yếu vào rèn luyện tính tự giác cho trẻ. Tự giác là kỹ năng căn bản, cội nguồn của mọi thành công trong việc học tập và sinh sống. Con người với tính tự giác cao có thể đối mặt được với những khó khăn của cuộc sống. Con người có khả năng đưa ra các quyết định tốt bởi họ nghe được sự mách bảo của động lực bản thân. Các nghiên cứu chỉ ra rằng đứa trẻ được rèn luyện tính tự giác sẽ có kết quả học tập cao hơn, thế chất tốt hơn, tỷ lệ li dị thấp và ít sa vào nghiện ngập khi đến tuổi trưởng thành.

“Nếu không có sự tự do thì con người không thể phát triển một cách tốt nhất. Sự tự do là chìa khoá cho mọi hoạt động và trở thành bước đầu tiên khi trẻ có khả năng hoạt động không cần sự giúp đỡ của người khác và ý thức được sự tồn tại độc lập của mình” ~Maria Montessori

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng tính tự giác không phải có thể rèn luyện trong một ngày mà đó phải là kết quả của hàng năm phát triển. Đó chính là một hành trình mà đứa trẻ được học và rèn luyện dần dần từ nhiều tác động và chiến lược khác nhau.

Lớp học Montessori

Dịch Tips for Choosing a Montessori School for your Child

Nếu như bạn quyết định đăng ký cho những đứa trẻ của mình theo học chương trình Montessori, đó là một sự lựa chọn tốt, tuy nhiên quá trình quyết định vẫn còn phải cân nhắc nhiều vấn đề. Bạn phải chọn trường Montessori nào phù hợp với đứa trẻ của mình bởi vì trên thực tế có rất nhiều trường gọi là Montessori nhưng chương trình thì không được như vâỵ. Điều này thật sự khó đối với những người nào còn xa lạ với thế giới của Montessori.

Điều đầu tiên tôi có thể đề xuất với bạn là hãy đến và quan sát lớp học ở đó. Thật khó có thể có cái nhìn chính xác nếu như bạn chỉ đi tour vòng quanh trường hoặc trò chuyện với người quản lý. Bạn phải dành ít nhất 20 phút ngồi yên lặng, quan sát toàn bộ học sinh và cần lưu ý những điểm như sau:

QUAN SÁT LỚP HỌC

  • Lớp học có sạch sẽ, ngăn nắp và có đầy đủ các học cụ Montessori? (For an introduction to Montessori materials, please click here.)
  • Lớp học có tính thẩm mỹ hay không? Như bà Montessori đã giải thích rằng “đầu óc có tính thẩm thấu của đứa trẻ sẽ tìm kiếm tất cả những điều bổ dưỡng ở môi trường xung quanh, do đó hãy tạo ra môi trường thật hứng thú và thu hút mà chúng ta có thể”
  • Có trang bị tủ giá, dụng cụ có kích cỡ cho trẻ em. Đây là điều rất quan trọng để thúc đẩy tính độc lập của trẻ.
  • Các học cụ có được làm từ thiên nhiên như gỗ, thuỷ tinh hay kim loại? Liệu chúng có sạch sẽ, ngăn nắp và trẻ có thể dễ dàng lấy chúng?
  • Phòng học có đem lại sự thoải mái và gây hứng thú để học không?
  • Không khí lớp học có vui vẻ?

QUAN SÁT NHỮNG ĐỨA TRẺ

  • Đứa trẻ có cảm thấy thích thú khi ở đó?
  • Những đứa trẻ có “làm việc” năng suất không? (tức là tập trung vào nhiệm vụ của chúng) hay bị phân tán và không có tổ chức?
  • Những đứa trẻ đang chơi một cách độc lập hay chơi theo từng nhóm nhỏ (thông thường từ 2-4 trẻ) ?
  • Có các lứa tuổi khác nhau của trẻ tham gia lớp học không ? (Thông thường là 2,5 – 6 tuổi, 6-9 tuổi, 15-18 tuổi)
  • Đứa trẻ có thể chọn công việc của chúng và tập trung vào nó mà không bị phân tán?
  • Đứa trẻ có giao tiếp với đứa trẻ khác hoặc ngừoi lớn hơn chúng một cách lễ phép không?

QUAN SÁT GIÁO VIÊN

(cần lưu ý rằng trong lớp học Montessori giáo viên thường được xem là người hướng dẫn)

  • Giáo viên giao tiếp với trẻ như thế nào?
  • Có sự lễ phép giữa giáo viên và học trò hay không?
  • Giáo viên có hướng dẫn cho từng trẻ hay là cả lớp?
  • Các giáo viên có quan sát trẻ một cách cẩn thân để họ có thể thấy được sự phát triển của từng cá thể?

Ngoài ra, đây là một số câu hỏi quan trong mà bạn nên hỏi:

  • Chương trình học là gì?
  • Có thời gian khoảng 3 tiếng trẻ không bị làm phiền hoặc có chương trình học không theo giáo trình hay không?
  • Trường học có tập trung vào việc giúp từng đưá trẻ phát triển tốt nhất khả năng của trẻ (thay vì bằng cấp)
  • Trẻ có bài tập về nhà không?
  • Trẻ có phải tham gia vào các bài kiểm tra mẫu không?
  • Đội ngũ giáo viên có thân thiện, hiểu biết và dễ trao đổi?
  • Lịch sử trường học?
  • Bằng cấp của giáo viên (có được cấp chứng chỉ về giáo dục Montessori hay không vẫn là điều đang bàn cãi)

Cuối cùng và có lẽ quan trong hơn cả đó là hãy tin vào bản năng của bạn. Liệu bạn có cảm thấy thoải mái với môi trường học ở đó không? Lớp học có quá khuôn mẫu hoặc vô tổ chức quá? Đứa trẻ của bạn cảm thấy như thế nào. Những điều đó chỉ có bạn mới biết được và hãy tin vào sự hướng dẫn của chính bản thân mình để đưa ra quyết định chính xác nhất.