Thiền trà
Nhân sinh là một bình thiền trà
Tác giả: Bạch Lạc Mai
Nguồn người dịch: Lục Bích

Nhân sinh là một bình thiền trà

Sau này mới biết, trong lòng chúng sinh, trà có mùi vị khác nhau. Thứ trà mới dùng nước tinh khiết đun sôi trong bình đó, quẩn quanh giữa răng và môi của trà khách, uống xong, có người cảm thấy đắng như sinh mệnh, cũng có người thấy nhạt như gió mát.

Trà có đậm nhạt, có nóng lạnh, cũng có buồn vui. Dùng một trái tim trần tục để thưởng trà, khó tránh khỏi chỉ chăm chăm vào sắc, hương, vị, mà thiếu đi một phần thanh đạm và chất phác. Trà có ngàn vạn vị, thậm chí hòa lẫn với thế sự và tình cảm. Dùng một trái tim siêu thoát để thưởng trà, thì có thể ung dung tận hưởng sự tĩnh lặng tuyệt mỹ của mây bay ngang trời, nước biếc không gợn sóng.

Trà, bắt nguồn từ tự nhiên, trải tinh hoa năm tháng, tắm thử thách xuân thu, từ đó mà có linh tính như hồn phách non nước. Trà có thể dùng để gột bỏ bụi trần, gạn lọc tâm tình, rộng kết thiện duyên. Cho nên, người biết cách thưởng trà, cũng là một người tình nguyện để bản thân sống một cách giản đơn và thuần khiết. Luôn tin rằng, thiền là một cảnh ý, có những người dùng cả đời cũng không thể rũ bỏ chấp nhiệm, ngộ được bồ đề. Mà có những người chỉ dùng thời khắc của một chén trà, cũng có thể bước ra từ vạn tượng hỗn tạp, hé nở như hoa sen.

Đời người có bảy nỗi khổ, chúng sinh lưu lạc trong nhân gian, nếm hết mọi đắng cay, đổi lấy vị ngọt ngào. Phồn hoa ba ngàn, nhưng cuối cùng đậu lại trần ai, giống như màn đêm trút bỏ lớp trang sức của ban ngày, trầm tĩnh mà yên lắng. Thời gian trôi qua như một cái búng tay,  năm nào còn quan tâm được mất, tính toán thành bại, đều đã thành khói mây qua mắt. Bất cứ khi nào, bờ bên kia đều chỉ cách một bước chân, lạc lối biết quay lại, trời đất đều bao la.

“Tâm kinh” viết: “Vô quải ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đải mộng tưởng. Nhất thiết tùy duyên, nhất sinh tùy duyên, phương đắc tự tại” (Tâm không uế chướng, nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm. Tất cả tùy duyên, một đời tùy duyên, luôn được tự tại). Một người ngoan cố níu giữ cả đời không buông, không thích hợp tu hành. Một người si mê nhân quả, cũng không thích hợp tu hành. Trà có Phật tính, giống như mây biếc tịnh thủy, vài chén trôi xuống ruột, đầu óc liền thảnh thơi. Cho nên người tu hành thường thích cả ngày chìm đắm trong trà, vứt bỏ tạp niệm, chứng ngộ tâm bồ đề.

 Trời đất mênh mông, chúng ta nhỏ như cọng cỏ. Không khiến bản thân kinh động thế giới, cũng không khiến thế giới kinh động bản thân. Khi con người chào đời, vốn chẳng có hành lý, cứ đi thêm một con đường, lại mang thêm một tay nải. Mà chúng ta gói ghém thế tục thế nào, để chuyển thành hành lý Thiền. Chỉ có dùng một trái tim thanh tịnh, nhìn ngàn vạn thế thái, mới có thể xóa bỏ thiên kiến, vui vẻ giữa bình lặng.

Text-Divider

Trà có bốn đức, từ bi hỉ xả. Cái gọi là “Vân thủy Thiền tâm”, tức là trong một chén trà trong, thưởng được chân ý có sinh ắt có tử, có tụ ắt có tán, có tươi ắt có héo. Nên biết bất cứ bi thương nào đều là vui sướng, bất cứ mất mát nào đều là có được. Một người từ bi với chính mình, mới có thể từ bi với vạn vật.

Thời gian như nước, im lặng là cái đẹp to lớn. Ngày tháng như sen, bình dị tức cực kỳ tao nhã. Thưởng trà cũng là tu Thiền, cho dù là hồng trần huyên náo, hay là núi non tĩnh lặng, đều có thể trở thành đạo tràng tu hành. Khắc chế dục vọng, đánh đuổi phiền nhiễu, không bi quan, không trốn tránh, chỉ là một cách sống giản đơn. Lập tức ở yên, cho dù là một trái tim chật hẹp, cũng có thể chuyên chở vạn vật khởi diệt.

Tất cả tình duyên thế gian, đều có số cả. Kẻ có tình chưa chắc có duyên, kẻ có duyên chưa chắc có tình. Tùy duyên là an, có thể ngộ đạo. Nước trà rửa tâm, tâm như gương sáng, một người chỉ cần nhìn rõ bản thân, là có thể nhận biết thế giới vô thường. Khi ý loạn tình mê, chưa đến mức hoảng loạn. Tĩnh tâm ngồi Thiền, ngày mai sẽ như hẹn mà đến. Hoa xuân vẫn đẹp như xưa, trăng thu vẫn tròn như thế.

“Kinh kim cương” viết: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”(Tâm quá khứ không thể có, tâm hiện tại không thể có, tâm tương lai cũng không thể có). Chúng ta không nên vì một bi kịch định mệnh, mà lựa chọn đau thương. Nhưng cũng không thể vì sự viên mãn của tương lai, mà bỏ việc tu hành. Thưởng trà, là để tu tâm, hiểu thấu thiền ý trong tịnh thủy không bụi trần. Để chúng ta không bị biểu tượng mê hoặc, tránh khỏi sự trôi dạt vô nghĩa kia, kịp thời đến bờ bên thanh tịnh.

Thưởng trà có thể khiến người ta tha thứ lỗi lầm, có được sự thanh thản trong mỗi chén trà. Đời người thực sự hoàn mỹ khi chừa lại khoảng trống, khoảng trống, tức là “không minh” mà Phật gia nhắc tới.  Nhân gian là một sân khấu thể hiện cái tôi tốt nhất, nếu như có một ngày kịch đến hồi kết, lựa chọn siêu thoát, nhất định cần thực sự từ bỏ, mà không phải bị đẩy vào con đường cụt. Phải tin rằng, khi không có lựa chọn khác, sẽ có lựa chọn tốt nhất.

Vô pháp vô thường, duyên khởi tính không. Vạn vật vì duyên hòa hợp mà sinh, cũng vì duyên mà diệt. “Vãn vân thu” (mây chiều ngưng lại), tức là lúc chim mỏi quay về tổ. Phật nói bể khổ vô biên, quay đầu là bờ, mỗi một lần quay lại đều là quay đầu, mỗi một lần qua sông đều là chèo thuyền. Cho dù con đường phía trước có bao xa, xóa bỏ ngã chấp, sau đó ăn gió uống sương, biển trời mênh mông, đều là chốn về.

Nước lặng chảy sâu, người đơn giản nội tâm thanh thản, càng dễ dàng thẩm thấu Thiền lý. Tu Phật cũng như thưởng trà, uống một chén trà từ đắng đến không có vị, đó là cảnh giới của Thiền. Đời người cũng nên bỏ phức tạp lấy giản đơn, nương theo thế sự, tâm trước sau như sen, yên tĩnh hé nở. Lại giống như ngàn vạn khe suối, cuối cùng đều đổ về một dòng sông, róc rách trong vắt, giản dị yên bình.

Uống trà, cần một trái tim thanh đạm, trái tim buồn thương. Cho dù là ở chốn phố chợ ngựa xe sầm uất, cũng có thể cảm nhận được sự thanh nhã của gió xuân lướt qua tai, nước thu gột bụi trần. Mây trôi ngoài cửa, chim bay qua thềm. Hương khói xoay vòng, như có như không, giải nghĩa nhân sinh hư thực tương sinh. Trên bàn, một chiếc mõ gỗ, vài quyển kinh thư nằm yên, còn có tràng hạt vương vãi, dưới ánh trăng nhàn nhạt,  xa cách lạnh lẽo.

Mây gió thế gian, biến ảo khôn lường. Phật gia chú trọng nhân quả luân hồi, cho dù là vật chuyển sao dời, cát bay đá chạy, cũng có một ngày đều khói tan mây tán, trở về cát bụi. Như trà, chất chứa tinh hồn của vạn vật, rót vào trong chén, trước sau một sắc, trong vắt thấu tỏ.

Siêu thoát không cần dũng khí và quyết tâm, mà cần thiện ý và thanh tỉnh. Ngày ngày những dòng chảy hối hả, vinh nhục phàm trần mà chúng ta nhìn thấy, kỳ thực đều chỉ là một vở kịch. Một nhà tu hành chỉ có đủ thiền định, mới có thể ra khỏi con đường nhân sinh tù túng, ngắm rừng mây đồng xanh, nhạn đậu cát bằng.

Thiền trà

Thiền trà

Phật nói, cắt bỏ chính là đạt được, tàn khuyết chính là viên mãn. Chúng ta thường dùng vô số thời gian nhưng vẫn không thể thuộc được kinh văn, đến khi ngộ đạo, lại có thể đọc lướt không quên. Rất nhiều người cho rằng Thiền tinh thâm uyên bác, kỳ thực nó tồn tại trong thời gian một lần đọc, trong mỗi một ngày đi qua, trong mỗi một giọt nước, trong mỗi một đóa hoa, trong thế giới Sa Bà.

Thưởng trà, có thể dùng đồ gốm, tách sứ, chén ngọc, cũng có thể dùng chung tre, bát gỗ. Chúng sinh thưởng trà, đa phần là để xua đi thời gian nhàn rỗi, tịch liêu. Mùi vị hay sự nóng lạnh của trà, dường như không quan trọng. Còn thiền trà của tăng giả uống, cũng không cần lễ tiết, chỉ uống một cách thoải mái, mùi vị chính là vị Bát Nhã.

Thời gian lưu chuyển, mây nước ngàn năm. Trà thành thói quen trong cuộc sống, thành một tri âm không thể thiếu của người tu hành. Chỉ là bao nhiêu người, có thể đem năm tháng sôi sục bất an, uống đến mức nước lặng không gợn sóng. Bao nhiêu người có thể đem thế tượng vẩn đọc liên miên, uống đến trong vắt tinh khiết. Có lẽ chúng ta có thể lựa chọn một ngày bất kỳ, cho dù mưa nắng, không quản xuân thu, uống hết một bình thiền trà nhân sinh, quay về bản chân, tìm được chính mình thưở ban đầu.

Có lẽ sẽ có một ngày nào đó, tôi sẽ uống cạn một chén trà cuối cùng của hồng trần, rời bỏ ba ngàn thế giới, đổi lấy một đời bình an. Là lạc lối quay lại, là thiền định ngộ đạo, cũng không quan trọng. Sau đó, núi lạnh đường đá, cưỡi ngựa trắng mà đi, uống hết nước ngàn sông, thưởng thiền trà đến mây gió nhẹ bay.

Trà đạo - Yemon Suntory

Dạo này mình rất hay uống trà Oolong, thú thực là uống rất dè xẻn. Nhưng mà cứ cái gì hiếm và đắt (cũng cắn răng để mua để thỏa cái thú của mình) thì cảm thấy vô cùng sảng khoái và khả năng tập trung cho công việc tốt hơn.

Tạm trích 9 chữ trong cách pha và uống trà cổ điển của Trung Hoa của Lục Vũ, người Trung Hoa thời Nhà Đường trong cuốn Trà Kinh của Câu lạc bộ Trà như sau:

  • Phm : đánh giá phẩm chất trà bằng ngoại hình trà khô.
  • Ôn : dùng nước sôi rửa sạch sẽ ấm chén pha trà, để tăng nhiệt độ nhằm chiết xuất tối đa các thành phần hữu hiệu của trà.
  • Đu : bốc một lượng trà thích đáng vào trong ấm, không quá nhiều hay quá ít, căn cứ vào loại trà và sở thích của khách uông trà.
  • Trúng : pha nước sôi ít một, không đổ đầy ngay cả ấm một lần.
  • Mân : hãm nước sôi đậy nắp kín, 1 – 2’ để cho cánh trà nở ra.
  • Phc : lại tiếp tục pha nước sôi đầy ấm, để chiết xuất tối đa các thành phần hữu hiệu.
  • Chân : rót nước trà trong ấm pha vào chén uống trà.
  • Kính : dâng chén trà một cách kính cẩn mời khách uống.
  • m : vừa uống vừa thưởng thức hương vị, vừa khen thơm ngon.

Có lần đi Nhật Bản, mình cũng mon men thử các loại trà (trà matcha, trà gạo, Yemon,…) cũng thấy thích. Cũng từ dạo đấy xem quảng cáo trà Yemon của Nhật thấy thật thú vị. Trà Trung Hoa 9 chữ, trà Nhật mình thấy 1 chữ: Thin

Quảng cáo Yemon trà của hãng Suntony với lịch sử thành lập lâu đời, phần nhạc nền Ngn gió phương Đông của nhà soạn nhạc tài ba Joe Hisaishi làm mình vô cùng thích thú.

YEMON Japanese Green Tea

Trông hoa anh đào, trông sông nước, chép một bài thơ tại đây để mô tả cho các quảng cáo này.

Lò hương khói tỏa vương mây,

Chung trà tĩnh lặng, cơn say tỉnh rồi.

Thông reo, gió thổi trên đồi,

Người dừng cuộc lữ về ngồi cùng ta.

Tay gầy nâng trọn chung trà,

Sương mù tiền kiếp tan nhòa hư không.

Mây chiều gió núi mênh mông,

Ta, người một thuở thong dong ngắm đời.

Tam đạo trà - Dân tộc Bạch, Đại Lý, Vân Nam

Nghe Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc

Các bạn thân mến, “Tam đạo trà” – cách pha trà ba lần, là văn hóa tục lễ độc đáo ở Đại Lý, tỉnh Vân Nam, là trà đạo đặc biệt mà người Đại Lý đãi khách, chính vì sự tinh tuý của trà đạo này là “Nhất khổ, nhì điềm, tam hồi vị”, có nghĩa là thưởng thức lần đầu thấy đắng, lần thứ hai thấy ngọt, lần thứ ba khiến người ta phải ngẫm nghĩ về ý nghĩa cuộc đời nên đã rất được tôn sùng.

Ở Đại Lý, “Tam đạo trà” đã có lịch sử lâu đời, sử sách ghi chép sớm nhất là thời nhà Đường. Lúc đầu, “Tam đạo trà” chỉ là một cách chúc nguyện của người lớn đối với lớp người trẻ khi đi học, học nghề, làm buôn bán, kết hôn v.v. Ngày nay, “Tam đạo trà” đã trở thành nghi lễ sang trọng nhất của bà con dân tộc Bạch khi đón khách và cũng là văn hóa trà đậm đà bản sắc dân tộc Bạch.

Ông Nghiêm Học Hầu, được tôn vinh là “Thương nhân văn hóa dân tộc Bạch đương đại”, ông là một trong những người quan trọng khiến “Tam đạo trà” cởi bỏ đi lớp áo “quê mùa” đến với mọi người. Ông Nghiêm Học Hầu sinh năm 1944 trong một gia đình giàu có chuyên kinh doanh trà ở Hỷ Châu, Đại Lý. Khi ông chào đời, gia tộc nhà họ Nghiêm đã suy thoái, chỉ để lại cho ông căn nhà cổ của gia tộc họ Nghiêm.

“Lúc đó, chúng tôi làm việc trong căn nhà cổ của nhà họ Nghiêm, do hình thức kiến trúc dân tộc Bạch của căn nhà khá đặc biệt, nên rất được mọi người hoan nghênh.”

Vào một buổi chiều ánh nắng chan hòa rực rỡ, chúng tôi đi thăm ông Nghiêm Học Hầu. Ông Hầu dáng người mảnh khảnh, cao cao, đeo đôi kính lão, quắc thước, nho nhã, nói chuyện hóm hỉnh. Sau khi mời chúng tôi ngồi, ông liền lấy một chiếc giá hình giác đặt lên chậu than, nhóm lửa đun nước, bắt đầu pha “Tam đạo trà” cho chúng tôi.

Ông cho lá trà vào ấm trà đã được sấy nóng, vừa hơ vừa lắc trên lửa than, cho đến khi lá chè chuyển sang màu hơi vàng, tỏa hương thơm nồng thì mới rót một ít nước sôi vào ấm. Trong phút chốc, ấm trà phát ra tiếng “ung, ung” thì cũng có nghĩa là trà đã pha xong. Rót trà vào chén, nước trà có màu hổ phách, mùi thơm phức. Nhấp một ngụm trà bạn sẽ cảm nhận được mùi thơm và vị chát của trà lưu lại rất lâu trên lưỡi.

Năm 1992, ông Nghiêm Học Hầu đã nắm được thời cơ thực hiện ước mơ của mình. Qua sự nỗ lực của bản thân, ông đã thành lập “Công ty du lịch dân cư nhà họ Nghiêm”, một thực thể kinh doanh du lịch làng quê đầu tiên của tỉnh Vân Nam, gồm tham quan nghệ thuật kiến trúc dân cư dân tộc Bạch và thưởng thức biểu diễn ca múa nhạc “Tam đạo trà” dân tộc Bạch. Ông Hầu nói: “Từ khi có tiết mục biểu diễn ‘Tam đạo trà’ đến nay, đã thu hút đông đảo du khách, rất được hoan nghênh.”

“Tam đạo trà” gửi gắm ba giai đoạn của đời người.

  • Nhất đạo trà tức là pha trà lần đầu, là trà đắng, mang ngụ ý là giai đoạn khó khăn của đời người, tức là trên đường đời, bước khởi đầu khó khăn, khi bắt đầu lập nghiệp, chữ đắng đầu tiên;
  • Nhị đạo trà tức là pha trà lần thứ hai là trà ngọt, bởi vì khi pha lần thứ hai sẽ cho thêm nhân quả hồ đào, đường đỏ, sữa v.v đều có vị ngọt, mang ngụ ý khổ tận cam lai, bước vào giai đoạn hạnh phúc sau khi trải qua muôn vàn khó khăn;

    Tam đạo trà - Đại Lý Vân Nam

    Tam đạo trà – Đại Lý Vân Nam

  • Tam đạo trà tức pha trà lần thứ ba, là trà suy ngẫm, khi pha cho thêm mật ong, hạt tiêu, gừng, vỏ quế v.v vừa lắc vừa uống, có vị ngọt lại hơi tê và hơi đắng, tạo cảm giác suy ngẫm vô cùng, tượng trưng cho giai đoạn bình lặng của đời người. Tam đạo trà, ba mùi vị khác nhau, khổ trước sướng sau, có nghĩa là cuộc đời đầy cảm xúc, mang ngụ ý sâu xa.

Tiết mục biểu diễn ca múa nhạc “Tam đạo trà” của ông Nghiêm Học Hầu vừa ra mắt đã nhận được sự hoan nghênh của du khách, trở thành tiết mục “tủ” của nhà họ Nghiêm. Rất nhiều điểm du lịch khác cũng đua nhau học theo…

Hiện nay, ông Nghiêm Học Hầu lại tiếp tục mở rộng phòng biểu diễn “Tam đạo trà”, biến sân khấu kịch truyền thống thành sân khấu hiện đại, sử dụng những công nghệ tiên tiến như âm thanh, ánh sáng hiện đại v.v để biểu diễn các tiết mục truyền thống của dân tộc Bạch như “bấu cô dâu”, “trêu chú rể”, “múa sấy trà” v.v, khiến “Tam đạo trà” truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa nghệ thuật đầy hơi thở thời đại.

phân loại trà theo cách chế tạo -Vũ thế ngọc

Vũ Thế Ngọc trong cuốn “Trà kinh – nghệ thuật thưởng trà trong lịch sử và văn hoá Đông Phương” đã có đoạn phân loại trà một cách ngắn gọn và súc tích như sau:

Có thể nói chúng ta có cả ngàn loại trà, nhưng có thể chia làm ba loại chính là loại trà xanh (Lục trà/grean tea), loại Hồng trà (hoặc black tea theo cách gọi Âu Mỹ), và loại thứ ba trung gian nửa giống Hồng trà, nửa giống lục trà, loại trà này không có tên riêng nên thường gọi là Ô Long, vì Ô Long là loại trà phổ thông nhất trong loại trà trung gian này.

Khi nói đến Lục trà, Hồng trà, Ô Long trà, người ta thường chỉ hiểu rằng loại Lục trà, ví dụ như trà Long Tĩnh, khi pha sẽ cho nước màu xanh nhat; loại Hồng trà, ví dụ như Lục An Hồng (hay trà Lipton của Mỹ) sẽ cho nước màu đỏ nâu đậm; loại trà Ô Long điển hình như trà Thiết Quan Âm sẽ cho nước trà màu đỏ nâu nhat… Nhận xét đó chỉ đúng một phần bởi các loại rất khác nhau về cách chế  tạo. Đại đa số người Việt Á Đông: Việt, Hoa, Nhật, Hàn… chỉ uống loại trà xanh và Ô Long, còn người phương Tây đại đa số chỉ uống loại trà đen. Và điều đáng ngạc nhiên nhất là trà xanh là loại trà ta ưa thích nhất loại là loại trầ chế tạo đơn giản nhất.

Ba giai đoạn chính để tạo ra loại Hồng trà như sau:

1. Ải trà

Trà tươi mới hái về phải được hong trong nhà hoặc ngoài nắng từ 8 đến 24 tiếng. Ngày trước với loại trà quý, người ta thường dùng tay trải trà trên các mẹt phe phơi ở sân hay ở trong nhà thoáng khí. Ngày nay, với sản xuất lớn, người ta dùng đến hệ thống các tấm phản lớn, nếu khí hậu ẩm và lạnh phải dùng quạt thổi hơi ấm vào cho trà mau héo,

Giai đoạn này tiếng Việt gọi là ải trả hay hong trà (wither), mục đích làm cho trà tái đi, mất nước và mềm hơn. Hai loại Hồng trà và Ô Long đều trải qua giai đoạn này, trái lại Lục trà thì phải trải qua một giai đoạn hơi tương tự, gọi là “sấy mềm”

2. Ủ trà

Trà sau khi hong và ải đã mất đi nửa trọng lượng cũ. Trà lúc này đã mềm, được đưa vào máy quay đều, đánh vào thân trà cho bật chất nhưa, chất nước này chứa đựng những sinh hoá dược chất của trà. Trà lúc này có mùi chua chua vì các chất nhựa bốc ra và biến mất màu tái xanh để trở thành xám đậm. Trà bây giờ được để yên trên các mẹt tre hoặc tấm phản, hoặc rải trên thềm xi măng trong phòng rộng mát và ẩm, ta gọi giai đoạn này là ủ trà.

Giai đoạn ủ trà nhằm mục đích để cho các sinh hoá chất (hoá hợp giữa các chất đạm protein, polyphenols, pectins…) hợp với khí oxy trong không khí. Chỉ có Hồng trà và Ô long trà mới trải qua giai đoạn ủ. Có thể nói tất cả các loại trà chỉ vì khác nhau ở giai đoạn ủ mà thôi. Thời gian ủ càng lâu thì các hoá dược chất trong trà được oxidation cao thì màu trà càng đậm màu hơn.

Chỉ có loại Hồng trà và Ô long mới trải qua giai đoạn ủ và các loại trà sở dĩ khác nhau chỉ vì khác ở giai đoạn ủ này mà thôi. Thời gian ủ càng lâu thì trà càng đậm.

Loại trà Mức ủ Tên trà Màu trà Màu nước Độ nước
Trà xanh (lục trà) 0% Long tĩnh – Ngọc lộ Xanh vàng Xanh vàng (hoàng lục) 75 độ
Ô long trà 15% Thanh trà Xanh đen Vàng kim 85 độ
30% Đống Đinh Xanh xám Vàng xám 95 độ
40% Thiết Quan Âm Màu sắt Vàng cam 95 độ
70% Ô long Sắt đậm Hổ phách 90 độ
Hồng trà 70% Lục An/Lipton Đen Đỏ (Chu hồng) 95 độ

3. Sấy khô

Giai đoạn sấy khô hay “càn táo” là giai đoạn cuối cùng. Mục đích giai đoạn này là cô kết tất các “trà chất” để có thể giữ được lâu, bằng cách sấy khô trên lửa hoặc đặt trong máy rồi dùng hơi nóng và khô thổi qua nhiều lần. Có thể nói các “chất nước” trong trà đến lúc này được cô kết vào còn có 5%, và sẽ nhả ra khi có chất nước thấm vào, đó là lúc ta pha trà.

Tra đạo Nhật Bản - tea_ceremony

Truyền thống Phật giáo khuyến khích thói quen uống trà nhằm tỉnh táo trong quá trình thiền định. Nhắc đến trà đạo (chado) chúng ta nhớ ngay đến Nhật Bản. Lịch sử trà đạo của Nhật đã có nhiều thay đổi trong quá trình dài, khởi đầu  du nhập từ Trung Hoa vào thế kỷ 6.

Dưới đây trích dẫn cách chế biến của Urasenke, một trong trường phái hàng đầu của Nhật

Uống toàn trà trong 1 bữa ăn là Chaji, trong khi pha chế là Temae. Một nhóm người tập hợp uống trà là Chakai. Việc chọn lọc dụng cụ được xác định qua các thời điểm trong năm, ngày hay đêm, cũng như các dịp đặc biệt khác.

Trà được pha chế trong phòng được thiết kế và dùng vào một mục đích đặc biệt (gọi là chashitsu), không có một trang trí nào khác ngoài tấm liễn trướng và hoa cắm trong lọ. Liễn (chashitshu) lấy cảm hứng từ phật giáo tạo ra một bầu không khí tinh thần thích hợp cho việc uống trà, hoa (chabana) đơn giản, mộc mạc theo mùa, có vẻ như không được cắm tỉa tót mà để tự nhiên (khác với Ikebana).

Khách lý tưởng nhất là 4 người, tập hợp trong phòng đợi, được gia nhân phục vụ nước sôi trắng (sayu) và thử nước để hãm trà (hanto). Khách bước vào “Vùng đất đọng sương”(Roji), đường đi trong vườn lấp lánh nước, không có hoa (có vẻ như để khách rũ bụi trần). Họ chọn chỗ ngồi trên ghế chờ (koshikake machiai) đoán chủ nhà khi nào đến.

Roji - vung đat dong suong

Roji – vung đat dong suong

Chủ nhà rót đầy nước vào một bộ chậu đá trong 1 sự sắp xếp đá ở thấp phía dưới gọi là Tsukubai (nghĩa đen là cúi mình). Chủ nhà rửa sạch bàn tay và miệng tiến qua cổng giữa để chào khách bằng động tác cúi mình im lặng. Cổng nàytượng trưng cho sự tách biệt giữa hai thế giới trần tục – trà đạo. Khách rửa sạch tay và miệng bước vào phòng thất bằng cách cúi mình đi qua một cửa nhỏ. Từng người nhìn lên liễn trướng trong hốc tường, ấm đun, bếp lò rồi chọn chỗ ngồi.

Trước khi khách bước vào, ấm đun nước (kama) đặt trong bếp lò xách tay. Vào mùa đông có một lò sưởi đặt dưới sàn nhà thay cho bếp để sưởi ấm. Trầm hương đựng trong kogo, cho vào lửa, đàn hương được sử dụng trong bếp.

Text-Divider

Chuẩn bị và phục vụ trà

Một mình chủ nhà dọn các tấm liễn và thay bằng hoa, quét sạch phòng, bài trí các đồ dùng để pha chế koicha (trà đậm). Chủ nhà bày ra:

  1. Một bình đổ đầy nước lã, nước tượng trưng cho Âm (Yin) để khắc lửa trong bếp lò (tượng trưng cho Dương – Yang),
  2. Một lọ sứ nhỏ đựng trà bột, đậy bằng túi lụa mịn (Shifuku) đặt phía trước bình nước.
  3. Giá (tana) đặt bộ đựng trà thích hợp

Sau đó đánh một tiếng cồng (dora) mời khách (ban đêm là rung chuông nhỏ – kansho), khách rửa tay và miệng thêm một lần nữa rồi bước vào ngắm hoa và bộ trà đang được bày ra, cài chốt cửa.

Chủ nhà bước vào tay bưng bát trà (chawan) cùng với khăn trà (chakin) để lau khô bát, dùng muỗng trà bằng tre mảnh múc bột trà, đặt kế lọ trà (tượng trưng cho mặt trời – dương), bát tượng trưng cho mặt trăng – âm

Chủ nhà dùng miếng vải lụa (fukuka) tượng trưng cho tinh thần chủ nhà, tẩy uế lọ trà và môi múc, kiểm tra, gấp nếp và cầm fukusa để tăng sự tập trung và thiền định của gia chủ. Nước nóng múc bằng môi vào bát để làm nóng bát, tráng rồi đổ. Bát được lau khô bằng vải lanh.

Múc ba muỗng và gia tăng lượng vào bát. Nước nóng cho vào bát đủ để tạo thành lớp bột mỏng trộn lẫn, rót thêm nước để có độ sánh có thể uống được, sau bưng bát trà mời khách. Vị khách đầu tiên uống trà, chuyền cho những người kế tiếp.

Trà đạo Nhật Bản được hình thành dựa trên cơ sở kính trọng tất cả sự  sống và vạn vật, diễn ra trong một môi trường lý tưởng hóa để tạo ra một cuộc sống hoàn hảo. Bầu không khí im lặng với sự hòa hợp tôn trọng con người vạn vật, chú ý sự sạch sẽ trật tự, cố gắng mang lại cảm giác bình an cho thể xác lẫn tâm hồn.

Tổng hợp sách Đất nước và con người Nhật Bản của Eiichi Aoki