Đọc vị trẻ qua nét vẽ (P1)

Bằng sự vận động tay chân, chúng ta có thể thay đổi thế giới bên ngoài và nhận thức sự thay đổi đó bằng tai, mắt và da. Đối với trẻ em, quá trình suy nghĩ sáng tạo, vẽ một cái gì đó rồi chơi say mê với nó là niềm vui tuyệt với không gì sánh bằng. Đó là một phần gắn liền với bản chất con người, một sinh vật có tính văn hoá.

Tác giả Akiyoshi Torii trong cuốn Đọc vị trẻ qua nét vẽ (thực hành) nhấn mạnh rằng tranh của trẻ em và tranh người lớn là khác nhau. Người lớn có thể chiêm ngưỡng những bức tranh hoạ sĩ hay coi vẽ tranh là sở thích nhưng trẻ thì khác, việc người lớn xem và đánh giá bức tranh của trẻ theo quan điêm cách nhìn như tranh do người lớn vẽ là hoàn toàn không nên.

Lịch sử nhân loại đã đạt được bước tiến vĩ đại khi chuyển từ người nguyên thuỷ sang người văn minh. Cũng như vây, chỉ cần một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng 3-4 năm kể từ lúc sinh ra, trẻ em có sự phát triển đáng kinh ngạc. Dấu vết đó có thể nhìn thấy qua bức vẽ của trẻ. Giống như loài khỉ, trẻ bắt đầu với những nét vẽ nguệch ngoạc như đường thằng, hình tròn, sau đó trẻ có thể vẽ bức tranh có ý nghĩa về mặt nội dung. Dần dẫn mở rộng vốn từ vựng thì trẻ có thể vẽ bằng sự tưởng tượng. Do đó, người lớn cần có phương pháp phù hợp để trẻ vẽ tranh đúng tuổi, không nên dạy trẻ vẽ theo hình mẫu, đừng quá chú ý đến màu sắc hình dạng trong tranh trẻ để suy đoán tính cách, hãy để trẻ được lấm bẩn. Vẽ tranh là dùng bút chì hoặc một dụng cụ nào đó để làm bẩn giấy vẽ màu trắng, làm bẩn tóc, quần áo, mặt mũi. Những bà mẹ có thói quen sạch sẽ, trong lúc nuôi dạy trẻ nếu trẻ nghịch ngơm, lấm bẩn thì cũng đừng cảm thấy bế tắc mà hãy nhắm mắt làm ngơ.

Hãy dạy trẻ chơi với nước và cát. Nước và cát là đồ chơi quan trọng nhất với giai đoạn ấu thơ và hãy tạo ra những kỷ niệm vui cho bé.

Giai đoạn 1 tuổi:

Đối với trẻ 1 tuổi, vẽ tranh là dấu vết của sự cử động bàn tay, nó không phải là hoạt động tinh thần mà là kết quả sơ khai của đôi tay. TRẻ cố gắng xoay, đánh, đẩy, thả uốn cong các đồ chơi tiếp xúc, xu hướng ấn, chọ trên giấy

Tầm 1 tuổi rưỡi, do chuyển động qua lại của bàn tay, nét vẽ của trẻ giai đoạn này rất nguệch ngoạc. Với trục là khuyủ tay, bàn tay di chuyển sang trái, phải thành hình cầu vồng hoặc bán nguyệt.

Sau 1 tuổi rưỡi, từ vòng tròn lớn nguệch ngoạc, trẻ vẽ những vòng tròn nhỏ, vòng tròn đã khép lại, cử động bàn tay đã có thay đổi.

Trong giai đoạn này cần chú ý hãy đưa cho trẻ bất kỳ màu sắc nào, hãy cho trẻ màu nào trẻ thích, bút chì đậm, mặt sau tờ lịch để cho trẻ nghịch. Hãy để trẻ tự do sáng tạo những nét vẽ nguệch ngoạc của mình, đừng dạy trẻ theo hình mẫu, dạy chữ.

Giai đoạn 2 tuổi

Giai đoạn này cử động của tay có sự dõi theo của mắt, trẻ có thể dùng ngôn từ đơn giản để vẽ tranh, trẻ có thể cầm nhón được. Lúc này trẻ có thể vừa chú ý bằng mắt, vừa vẽ đường thẳng bằng bút chì màu, vẽ vòng tròn khép lại. Khi trẻ khoảng 2 tuổi 2 tháng đến 2 tuổi 4 tháng trẻ vẽ duy nhất một loại nét vẽ, một đường khởi đầu và kết thúc. Hoặc vẽ ngược lại về nơ bát đầu nét vẽ. Việc đóng vòng tròn là hoạt động không chỉ của tay mà còn của mắt.

Trẻ 2,5 tuổi có thể bắt đầu gắn ý nghĩa vào tranh, manh nha xuất hiện trẻ muốn làm gì. Trẻ càng giàu trí tưởng tượng thì càng có khả năng gán nhiều ý nghĩa khác nhau vào một đường tròn duy nhất. Tuy nhiên giai đoạn này trẻ vẫn chưa thể vẽ những hình như khuôn mặt, không thể vẽ giống những vật mà trẻ được cho xem. Do đó đừng bắt trẻ phải vẽ theo hình mẫu.

Giai đoạn 3 tuổi:

Trẻ vẽ và gắn ý nghĩa cho tranh ngay từ khi bắt đầu vẽ và có sự thay đổi trong tranh vẽ con người. Người lớn vẫn chưa nên dạy trẻ những kiểu hình mẫu như búp bê, xe hơi, khuôn mặt. Hãy hỏi và lắng nghe nội dung các bức vẽ tranh với rất nhiều vòng tròn và đường kẻ của trẻ.

Giai đoạn này tay trẻ cử động theo những gì mình định vẽ nhưng chất lượng các ý nghĩ gắn cho sẽ có sự thay đổi. Ví dụ khi 2 tuổi trẻ nói “Đó là bánh Dango” và người lớn phủ nhận “không phải bánh Dango, có lẽ là bánh bao” có thể trẻ sẽ phản ứng nói lại là “nói dối, không đúng”. Tuy nhiên đến 3 tuổi nếu ngay tự đầu trẻ muốn vẽ bánh Dango nhưng bị mẹ nói là bánh mì thì trẻ sẽ cảm thấy chán nản.

Sau 3 tuổi rưỡi, trẻ trò chuyện bằng rất nhiều kiểu vẽ hình tròn. Trẻ ở lứa tuổi này thường thích chơi đóng vai như bác sỹ, siêu nhân, bà nội trợ. Lúc này trẻ sẽ tràn đầy tự tin “mình có thể làm được” và đây là giai đoạn phạm trù đối lập như lớn nhỏ, bản thân và ngừoi khác cũng sẽ thay đổi. Trẻ sẽ ám chỉ vòng tròn này là bố, vòng này là mẹ, vòng này là ngôi nhà, to nhỏ khác nhau. Do đó, đây là mầm mống việc sử dụng tranh như một phương thức biểu hiện mà những loại động vật không thể bắt chước được. Những bức tranh ở độ tuổi này mang tính tượng trưng, gọi là “chủ nghĩa tượng trưng”. Bố mẹ đừng chỉ ra lỗi sai một cách gay gắt hoặc bắt trẻ ghi nhớ chẳng hạn không vẽ tai, tay chân…Hãy toàn tâm lắng nghe nội dung bức vẽ của trẻ và hài lòng với tiến bộ trẻ đạt được.

Giai đoạn 4 tuổi

Cuối cùng trẻ có thể vẽ được hình dạng, trẻ bắt đầu vẽ bằng sự tưởng tượng. Các bộ phận vẽ người bắt đầu xuất hiện và trẻ chỉ vẽ những bức tranh sắp xếp đồ vật một cách vô trật tự, kiểu liệt kê. Tuy nhiên sự thay đổi trong việc vẽ bộ phận con người từ phần đầu sau đó đến chân, rồi cả hai chân thể hiện quá trình phát triển khả năng nhận thức của trẻ. Trong giai đoạn này ép trẻ vẽ thứ này thứ khác sẽ làm mất niềm vui được tìm hiểu và nhận thức cảu trẻ, gây tác động xấu đến nhận thức các sự vật.

Khi 4 tuổi, trẻ có thể vẽ theo chủ đề được gợi ý như “con muốn vẽ bố không?” hay “Con định vẽ mẹ à”, dù vật không ở trước mắt nhưng trẻ có thể vẽ bằng những hình dung trong đầu. Trẻ có ấn tượng mạnh mẽ với chi tiết gì thì sẽ vẽ chi tiết đó to lên.

Sau 4,5 tuổi những bức tranh rời rạc giống như liệt kê hình vẽ. Các bức vẽ lặp đi lặp lại hoặc đơn giản kiểu liệt kê. Bố mẹ hãy thử lắng nghe một cách cẩn thận câu chuyện của trẻ có thể sẽ kết nối được suy nghĩ trẻ.

Giai đoạn 5 tuổi

Thay vì vẽ theo những gì đã thấy, đã trải nghiệm, trẻ chỉ vẽ những gì mình quan tâm trong giai đoạn này. Tranh vẽ bắt đầu xuất hiện đường cơ sở gắn trật tự cho mọi sự vật, hiện tượng. Trẻ có thể vẽ tranh bằng cách tưởng tượng các câu chuyện đã được nghe. Bố mẹ hãy hỏi về các mối quan hệ trong tranh, đừng nói với trẻ “hình vẽ này trông buồn cười thế”.

Giai đoạn này trẻ có thể nắm bắt được những đặc trưng và hình dạng của vật. Ở 4 tuổi trẻ có thể phân biệt rõ tính câhts hoặc hình dạng của sự vật, hiện tượng. Tre có thể hiểu đó là con chó, chim bồ câu những không nhận thức được mối quan hệ giữa những gì mình muốn vẽ, biểu hiện của trẻ chỉ vẽ những thứ mình ấn tượng. HÌnh ảnh người mặc quần áo, tranh phục chưa thuộc ấn tượng của trẻ. Lên 5 tuổi trẻ hiêu rõ hơn bản chất vốn có của sự vật, tuy chưa thể vẽ chính xác mối quan hệ sự vật hiện tượng nên vẽ tuỳ hứng. Có thể nói đặc trưng nổi bật trong tranh vẽ trẻ từ 4-8 tuổi là vẽ theo những thứ mình thích, không theo những gì mình thấy. Tác giả Akiiyoshi Torii goi đó là “chủ nghĩa hiện thực có tính trí tuệ”.

Sau 5 tuổi rưỡi đến gần 6 tuổi, trẻ quan tâm đến mối quan hệ các sự vật hơn, tranh vẽ bắt đầu có đường cơ sở, tính 2 chiều nên dù đó là nhà hay biển thì chúng ta có thể nhìn thấy được. Đây gọi là phương pháp vẽ xuyên thấu. Do đó từ 2,5 đến 5 tuổi thì tốt nhất chúng ta nên hỏi “Đang làm gì, ai thế, đây là ở đâu” ngoài ra bố mẹ nên tạo điều kiện để đời sống trẻ phong phú hơn. Giai đoạn này trẻ cũng thích tô màu, do đó hãy cho trẻ bút chì đen và bộ bút chì màu.

Giai đoạn 6 tuổi

Trẻ sử dụng đường cơ sở để phân rõ giới hạn sự vật, tách moi vật theo trật tự không gian và bé có thể hoàn thành bức vẽ mô phỏng mặc dù bé chưa nhìn thấy bao giờ. Năng lực trừu tượng hoá, mô phỏng hoá sự vật, sự việc như thế này cũng là nền tảng cho việc viết văn sau này của trẻ. Tuyệt đối đừng bắt trẻ vẽ theo những gì mẹ nói.

Giai đoạn 7 – 8 tuổi

Đường cơ sở sẽ thay đổi, là đường ngang hoặc đường chân trời. Hình ảnh con người được vẽ theo sự phân chia 3 góc độ: phía trước, bên cạnh và phía sau. Giai đoạn này bức vẽ của trẻ trở nên cóys nghĩa khi có người xem nên bố mẹ hãy để ý đến nỗi lòng của trẻ và cẩn thận hơn khi xem tranh.

Giai đoạn này trẻ có thể vẽ cử động của người theo hướng từ bên cạnh.

Giai đoạn 9 tuổi

Trẻ có thể vẽ được những bức tranh như những gì mình đã thấy. Niềm say mê của trẻ sẽ trở thành sức mạnh to lớn để trẻ phát triển khả năng vẽ phác hoạ. Khi đó người lớn không cần làm những việc vô ích như ra tay can thiệp hoặc nói xen vào. Từ 9 tuổi thì bức tranh của trẻ đã là bức tranh của người lớn bởi sự thay đổi rõ trong cách vẽ. Từ 4-8 tuổi tranh vẽ ở giai đoạn “chủ nghĩa hiện thực trí tuệ” vẽ như những gì mình biết thì từ tuổi tranh của trẻ sẽ có khuynh hướng thay đổi giống như người lớn goi là “Chủ nghĩa hiện thực thị giác” như nhà nghiên cứu người Pháp Georges Henri Luquet đã nói.

Để nuôi dưỡng con người, đặc biệt là trẻ em những hoạt động có tính chất “gặp gỡ” tiếp xúc đầu tiên như vẽ tranh là điều cần thiết. Nhờ ngôn ngữ tượng hình cúa những hoạt động tạo hình làm ra một vật gì đó hoặc vẽ tranh mà năng lực tưởng tượng, phán đoán, suy nghĩ của trẻ được rèn luyện, góp phần hoàn thiện con người thông minh.

Tóm tắt nội dung Đọc vị trẻ qua nét vẽ (Lý thuyết và thực hành) của tác giả Akiyoshi Torii, 2016 dịch giả Hồ Phương, NXB Lao động, ThaiHa books

Đọc vị trẻ qua nét vẽ của tác giả Akiyoshi Torii là cuốn sách hiếm hoi viết về vấn đề giáo dục nghệ thuật vẽ tranh cho trẻ em được dịch sang Tiếng Việt. Nếu bất kỳ bố mẹ nào đọc qua cuốn sách này thì chắc hẳn sẽ có cái nhìn thấu hiểu và tôn trọng sự phát triển của bé qua những bức tranh bé vẽ và cũng sẽ thay đổi suy nghĩ và cách tiếp cận về việc cho bé học vẽ tranh theo đúng độ tuổi.

Trong cuộc đời của một con người, giai đoạn mẫu giáo hay giai đoạn thiếu niên chính là thời kỳ mà khả năng sáng tạo phát triển mạnh mẽ nhất. Tác giả gọi đó là thời kỳ thích ứng với nghệ thuật. Trẻ con mỗi ngày đều sống trong vui vẻ, đầy tính sáng tạo và tình cảm nên hoàn toàn thoải mái, tự do trong việc thực hiện hoạt động nghệ thuật. Chính vì vậy, nếu chẳng may do cách giáo dục mà những em ở lứa tuổi mẫu giáo không thể vẽ tranh thì khả năng nghệ thuật của các em không thể khai hoa nở nhụy ngay trong giai đoạn quý giá này. Cuốn sách cũng đã làm rõ các vấn đề phụ huynh thường mắc phải liên quan đến vấn đề dạy nghệ thuật cho bé và phân tích đặc trưng trong tranh vẽ của trẻ ở độ tuổi ấu thơ (từ 1 tuổi đến 9 tuổi).

Có những đặc điểm khác nhau giữa tranh người lớn và tranh trẻ con và cách tiếp cận để giúp trẻ vẽ tranh được tác giả mô tả như sau:

  1. Tranh của lứa tuổi nhi đồng thuộc kiểu “tranh phải hỏi thì mới hiểu được ý nghĩa“. Nhà tâm lý Piaget đã từng nói đặc trưng trong cách suy nghĩ của trẻ ở thời kỳ mẫu giáo chính là tính duy kỷ. Khi vẽ tranh, trẻ không hề quan tâm người xem muốn gì, suy nghĩ gì, chỉ đơn giản là thoả mãn bản thân. Giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, việc trẻ vẽ tranh sẽ kéo theo sự hoạt động của tai và mắt, do đó chỉ bao gồm nét vẽ nguệch ngoạc, không hiểu trẻ vẽ gì. Từ 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi, trẻ có thể vận dụng đa dạng ngôn từ, đồng thời biết cách thể hiện được hình dáng của sự vật hiện tượng. Tuy nhiên khác với người lớn, trẻ giai đoạn này sẽ không vẽ lại đúng như những gì mình thấy mà vẽ theo cách hiểu của mình một cách tượng trưng. Chỉ khi trẻ 9 đến 10 tuổi thì trẻ mới ó nhận thức giống như người lớn về không gian Euclide. Do đó tranh của trẻ độ tuổi này là để hỏi hơn là ngắm.
  2. Vẽ tranh đối với trẻ không đơn giản chỉ là sở thích: đối với người lớn thì vẽ thuộc phạm trù sở thích tuy nhiên đối với trẻ con thì vẽ tranh không chỉ đơn giản là sở thích mà đó là một nội dung học tập cần phải có trong quá trình phát triển.
  3. Vẽ tranh là một hình thức lao động cần thiết trong quá trình phát triển của trẻ em.
  4. Trẻ mẫu giáo thể hiện qua tranh vẽ chứ chưa biết thể hiện bằng chữ viết. Người lớn có nhiều cách để thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nhưng đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo tranh vẽ là cách thể hiện duy nhất để ghi lại tình cảm và suy nghĩ bên trong của một đứa trẻ
  5. Tính cách của trẻ được phản ánh qua tranh vẽ: Trẻ mẫu giáo thường say mê chơi trò vẽ tranh hàng ngày, sự miệt mài đó giống như một nghệ sỹ thực thụ vậy. Tuy nhiên tranh của người lớn chứa đựng trách nhiệm phải đáp ứng nhu cầu xã hội, không đáp ứng được sẽ không thế bán được. Ngược lại tranh của trẻ em luôn giữ được nét trong sáng thuần tuý cái gọi là “nghệ thuật chơi với cái đẹp” đơn giản là chúng vẽ tranh từ niềm vui, duy trì sự tự do của bản thân, giải phóng mình khỏi những tính toán. Do đó việc bóp méo tranh của trẻ em sẽ gây ảnh hưởng to lớn, thậm chí là bóp méo sự phát triển về mặt tính cách của chúng.
  6. Không nên đánh giá tranh của trẻ vẽ xấu hay đẹp, giống hay là không giống. Người lớn càng không nên cố gắng phân tích nét vẽ, màu sắc tầm tuổi này của bé để đánh giá tính cách của một đứa trẻ. Điều đó trở nên vô nghĩa bởi vì các bức tranh nguệch ngoạc của trẻ cũng giống như tâm trạng lúc khóc lúc cười mà trẻ muốn thể hiện. Vẽ tranh cho phép trẻ thoả mãn được việc thể hiện cảm xúc niềm vui được biểu hiện của trẻ.
  7. Bố mẹ cần hiểu rằng mỗi đứa trẻ đều có thể vẽ bởi vẽ là một khả năng tự nhiên của trẻ cần được thể hiện hay khám phá trong quá trình phát triển. Khả năng vẽ của trẻ sẽ phát triển tương ứng với từng độ tuổi do đó điều người lớn cần làm là tạo ra một môi trường cho trẻ có khả năng khám phá, biểu hiện nó một cách tự nhiên, thích thú nhất, không làm phiền hay bắt trẻ phải theo cách vẽ của người lớn
  8. Tuổi thích hợp nhất để vẽ tranh màu là sau 6 tuổi bởi vì lúc đó trẻ đã có khái niệm về hình không gian. Trước đó đừng dạy trẻ vẽ hình mẫu, các phương pháp vẽ, kỹ thuật vẽ bởi đứa trẻ sẽ không thể vẽ được bức tranh thể hiện đúng với sự phát triển về tâm lý và vận động của chúng.
Tranh của người lớn – những bức tranh mẫu mà người lớn muốn dạy cho trẻ

Ngày nay, do phải chạy đua theo một nền giáo dục ăn xổi, ở thì nên phần lớn các bà mẹ đều vô tình mắc phải những lối mòn tư duy khi dạy con vẽ tranh, không ít người mang suy nghĩ sai lầm rằng giáo dục nghệ thuật là dạy cho trẻ em cách vẽ tranh người lớn. Các bố mẹ thường có tâm lý muốn con mình có thể nhanh chóng vẽ được những bức tranh hoa lá, chim cá, ô tô để không tự ti, xấu hổ trước “con nhà người ta”, đặt kỳ vọng quá cao về năng lực vẽ tranh của trẻ. Để đạt được mục đích đó, người lớn bắt đầu dạy, hay đúng hơn là ngồi nhét cho trẻ những kỹ thuật vẽ tranh và hoàn toàn quên đi các bổ trợ khác như năng lực vận động, khả năng ngôn ngữ, cảm xúc hay tính xã hội. Lối mòn trong tư duy giáo dục này còn lan rộng sang quá trình giáo dục các năng lực khác như tiếng Anh, toán học. Thực tế không ít bà mẹ bỏ tiền mua sách vở, dụng cụ học tập về ép con học ngay ừ thủa lên 3. Điều này chẳng mang lại lợi ích gì ngoài việc tạo cho đứa trẻ những rối loạn thần kinh chức năng, cô đơn lạc lõng ngay trong chính gia đình mình. Do đó, bố mẹ cần nắm rõ các giai đoạn phát triển, thay đổi quan điểm giáo dục của mình để nâng cao kỹ năng một cách đồng đều và tương trợ nhau.

Xem phần ghi chú Đọc vị trẻ qua nét vẽ (P2) về các giai đoạn phát triển vẽ tranh của trẻ

Dịch “鼓励孩子的哲学兴趣” của tác giả Chu Quốc Bình, tuyển tập tản văn “善良。丰富。高贵”, 2010.

Ở một góc độ nào đó, trẻ con đều là những nhà triết học từ khi mới sinh ra. Tất nhiên những đứa trẻ không biết khái niệm thế nào là triết học nhưng bộ óc trẻ thơ lúc nào cũng sôi nổi đặt ra các câu hỏi về thế giới xung quanh chính là bản chất chân chính của triết học. Tôi tin rằng trên mặt bằng chung, trẻ con có hứng thú với các vấn đề triết học hơn nhiều so với người lớn. Điều này một phần do từ thủa ấu nhi cho đến khi thiếu niên chính là giai đoạn bắt đầu xuất hiện nhận thức lý tính và dần dần phát triển đến thời kỳ trưởng thành, giai đoạn này trẻ luôn luôn có sự tò mò tối đa, đòi hỏi học tập những cái mới cao nhất. Mặt khác, trong đôi mắt trẻ thế giới hiện ra hoàn toàn mới mẻ, trong mỗi giai đoạn này, bản thân sự phát triển cũng chính là không ngừng tìm thấy những điều mới mẻ trong cuộc sống, nhìn nhận cuộc sống ở các góc độ mới, khiến cho đứa trẻ càng bối rối và thích thú, càng khiến chúng lúng túng và suy nghĩ. Gốc của triết học chính là sự nghiên cứu sâu xa về bản chất của thế giới và cuộc sống, giai đoạn trẻ thơ hay niên thiếu chính là thời kỳ xuất hiện các cơ hội nghiên cứu đẹp nhất này.

Trẻ con là những nhà triết học táo bạo nhất. Chúng bước vào thế giới chất phác nhất, không nhuộm bất kỳ một giáo lý, đấng tuyệt đối hay tín ngưỡng nào. Điều đó giải thích tại sao chúng luôn đặt ra những câu hỏi ngây thơ đến mức phi lý mà cũng phức tạp đến mức đau đầu” ~ Yevgeny Zamyatin

Thế nhưng, đại đa số mỗi người đều lớn lên theo tuổi tác và dựa vào kinh nghiệm, ai cũng từng có những niềm vui triết học tự sinh này nhưng đã mơ hồ mất dần đi. Tuổi tác đã khiến cho những tiểu triết gia biến thành một người tầm thường. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do môi trường những người sống xung quanh đứa trẻ và người nhà hay thầy cô cũng cần phải có trách nhiệm. Theo ý kiến của tôi, đối với các vấn đề mang tính triết học mà đứa trẻ nêu ra, người lớn thường có ba cách xử lý như sau: một là thờ ơ không để tâm, cho rằng các câu hỏi của trẻ không cần thiết phải lý giải, hai là giáo huấn một cách thô bạo rằng trẻ không cần suy nghĩ vớ vẩn, ba là qua loa có lệ bằng những câu trả lời đơn giản cho xong. Trong con mắt của người lớn, việc suy nghĩ lý giải về thế giới và con người rất mơ hồ, cảm thấy vô ích bởi chỉ có bài vở, thi cử, công việc tốt trong tương lai mới là điều chính yếu của cuộc sống. Trong môi trường chạy theo những cái lợi trước mắt, niềm vui triết học của những đứa trẻ không những không được khích lệ mà còn nhanh chóng bị dập tắt đi.

Triết học rốt cuộc hữu dụng hay vô ích?Vấn đề then chốt trả lời câu hỏi trên chính là xem xét ích lợi của triết học từ góc độ nào. Nếu như bạn muốn đánh giá trên kết quả thi cử giỏi, tìm được công việc tốt, kiếm được nhiều tiền thì triết học không mang lại những lợi ích như vậy. Tuy nhiên nếu bạn hy vọng đứa trẻ của mình thành một con người chân chính ưu tú thì triết học chính là hữu dụng nhất. Tất cả những nhân vật ưu tú của lịch sử nhân loại không kể trong bất cứ lĩnh vực nào đều phải là con người có những tư tưởng lớn lao và cách lý giải độc đáo của bản thân về nhân sinh và thế giới. Những người chỉ có trí khôn vặt mà không có một trí tuệ lớn thì tự cổ chí kim chưa thấy một người nào làm nên đại sự.

Giáo dục bắt đầu từ thời điểm chúng ta nhìn nhận những đứa trẻ là những cá thể có năng lực và thông minh từ khi mới sinh ra. Chỉ lúc ta nhận ra điều đó chúng ta mới có thể hoà nhập trong thế giới của chúng. ~ Vincent Gowmon

Do vây, nếu như bạn thực sự yêu những đứa trẻ, quan tâm đến tương lai của chúng thì xin hãy để tầm nhìn của bản thân xa hơn một chút. Không những không được làm tổn thương niềm hứng thú triết học tự nhiên của mỗi đứa trẻ mà còn phải bảo vệ và khích lệ phát triển nó. Phương pháp khích lệ tốt nhất đó chính là cùng với đứa trẻ thảo luận các vấn đề trẻ quan tâm. Về bản chất, bất kỳ vấn đề triết học chân chính nào đều không có một đáp án mang tính tiêu chuẩn. Điều đáng trân trọng nhất chính là quá trình bản thân phát hiện ra các vấn đề và nghiên cứu sâu về chúng, nó giúp cho chúng ta luôn duy trì một thái độ sôi nổi hứng thú nghiên cứu về bản chất của các vấn đề đó.

Về phương diện này ai trong chúng ta đều cần phải có một trình độ cơ bản nhất định. Trên thực tế, những cuốn sách mang tính nền tảng không những phù hợp cho trẻ con đọc mà còn phù hợp với người lớn và trẻ em, giáo viên và học sinh cùng nhau đọc. Đứng từ góc độ chuyên môn, người lớn cần thiết phải có kiến thức nền tảng, nếu không thì sẽ không thể trở thành phụ huynh hay giáo viên ưu tú được. Điều này có khó lắm không?

50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford (Phần 2)

Giáo dục là món quà đẹp nhất mà bố mẹ dành tặng cho con cái

~ Trần Mỹ Linh~ Ca sỹ, nhà văn viết tuỳ bút, tiến sỹ giáo dục học

Trần Mỹ Linh – 陈美龄

Trần Mỹ Linh sinh năm 1955 tại Hồng Công, cô là một ca sỹ nổi tiếng khắp Hồng Công, Đài Loan, Đông Nam Á những năm 60 và những năm 70 cô ra mắt tại Nhật Bản với ca khúc “Hoa ngu mỹ nhân”. Trần Mỹ Linh theo học chuyên ngành quốc tế học đại học Sophia Nhật Bản, tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý trẻ em đại học Toronto Canada và năm 1993 cô dành được danh hiệu tiến sỹ giáo dục học của Đại Học Stanford. Năm 2015, nối tiếp anh cả, anh hai, con trai thứ 3 của cô cũng được nhận vào trường đại học Stanford và trở thành đề tài bàn luận sôi nổi thời bấy giờ. Trong cuốn sách “50 bài học giáo dục từ người mẹ có ba con trai theo học Stanford”, Trần Mỹ Linh đã ghi chép lại 8 giác ngộ khi là phụ huynh, 11 mục tiêu giáo dục, 15 loại sức mạnh muón tặng cho con, 9 phương pháp bồi dưỡng đứa trẻ hiếu học và 6 gợi ý ứng phó với con trẻ trong thời kỳ dậy thì. Đây cũng là đúc rút kinh nghiệm, quan điểm sống của Trần Mỹ Linh khi cô từ bỏ con đường nghệ thuật ca sỹ thần tượng của mình vào những năm 70 – 80 và tham gia nhiều hoạt động từ thiện, giáo dục.

1. Phụ huynh chịu tất cả trách nhiệm giáo dục. Việc hình thành nhân cách không thể cứ vứt cho nhà trường rồi không quan tâm nữa. Trường học và giáo viên chỉ là người hỗ trợ quan trong trong việc giáo dục con cái. Cấp một, cấp hai dạy đọc viết, tính toán, cấp ba dạy đại học dạy kiến thức chuyên nghiệp cần thiết trong xã hội nhưng cách sống, quan điểm của giáo viên và cách nhìn nhận sự vật, sự việc chưa chắc đã hoàn toàn đúng đắn.

2. Không khiển trách, thử khen ngợi một cách phù hợp. Nếu chúng ta cứ bám lấy lỗi sai của con không tha chỉ khiến con hình thành thói xấu mà thôi. “Để trẻ lớn lên trong những lời khen ngợi” nhưng điều này không có nghĩa chuyện gì cũng cần khen. Quan trọng là cách khen phải phù hợp và khi khen thì không được nói dối. Rõ ràng là chữ viết không đẹp nhưng lại nói với trẻ là “con viết đẹp quá” như thế trẻ sẽ không đánh giá chính xác được bản thân. Cách khen như vậy không có lợi gì cho trẻ cả, chi bằng cứ cổ vũ động viên cho đến khi trẻ thấy thật sự tiến bộ mới khen ngợi hết lời. Câu khen ngợi thường xuyên nhất mà tôi sử dụng “Con có thể là chính mình, mẹ thực sự rất cảm ơn”.

Trần Mỹ Linh

3. Công việc của trẻ con là mơ mộng, giáo dục chính là dạy trẻ mơ như thế nào. Bố mẹ hãy hi vọng con có những giấc mơ vĩ đại mà cha mẹ không dám mơ. Chính vì các con có ước mơ, người lớn vì muốn ủng hộ chúng sẽ phải cố gắng hơn, như vậy sẽ mang tới nhiều sức sống cho xã hôi. Ngược lại nếu trẻ không chiu mơ nữa, xã hội sẽ trì trệ không tiến lên, tiến trình phát triển của nhân loại cũng sẽ ngừng lại. Hãy nói cho con biết thế giới này có rất nhiều khả năng, cho con những công cụ và tri thức cần thiết để thực hiện giấc mơ, giúp con có dũng khí để tiến lên phía trước, dạy dù khó khăn cũng phải đứng lên lạm lại, có đạt được mục tiêu cũng phải khiêm tốn, khoe khoang.

4. Đừng so sánh con với người khác. Mục tiêu đầu tiên của giáo dục là tự khẳng định mình bởi vì nội tâm tự công nhân được bản thân chính là cơ sở để hình thành nhân cách. Ngay cả bản thân mình cũng không thích thì không thể nào thích người khác được. Không so sánh với người khác thực ra chính là công nhận dáng vẻ chân thực nhất của trẻ. Bất kể trẻ có học tập tốt hay không, khả năng vận động mạnh hay không đều không có vấn đề gì. Không phải con làm được là con ngoan mà có cố gắng chính là con ngoan. Đối với trẻ mà nói, phần thưởng tốt nhất chính là sự yêu thương quan tâm từ những người xung quanh.

5. Những đứa trẻ có trái tim rộng mở sẽ biết nghĩ thay cho người khác, coi trọng bản thân. Những đứa trẻ không có trái tim rộng mở sẽ có lòng đố kị, kì thị người khác. Muốn dạy dỗ trẻ trở thành người biết nghĩ cho người khác, yêu thương người khác, nội tâm cần phong phú và rộng mở, chắc chắn không thể thiếu được giáo dục lòng tự tôn cho trẻ.

6. Đừng lãng phí khả năng tiềm tàng của trẻ. Bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra đều có sở trường của mình. Vậy tại sao có một số người có thể phát triển được tài năng của mình, có một số người cả đời chẳng có lấy một cơ hội phát triển. Sự khác biệt trong đó chính là ở chỗ có khả năng tự khẳng định mình hay không. Đứa trẻ có thể tự khẳng định mình sẽ ngây thơ thể hiện sở trường của mình. Như vậy người xung quanh dễ dàng phát hiện ra tài năng cua chúng và sẽ có cơ hội phát triển tiềm năng. Mặt khác một đứa trẻ mất đi sự tự tin sẽ không muốn thể hiện sở trường của mình ra ngoài bởi chúng lo lắng “Nếu mình nói ra câu này ra liệu có bị cười chê hay không?” và dần dần sẽ quên mất ưu điểm của mình. Hãy nói với trẻ “Nói ra suy nghĩ của con xem nào” để trẻ tích cực, tự do thể hiện bản thân, thể hiện ưu điểm của mình ra.

7. Dạy trẻ cảm nhận được hành vi của mình giúp đỡ được người khác thì có thể phục hồi khả năng tự khẳng định mình. Phần lớn trẻ nhỏ có được sự tự tin thông qua tình yêu thương nhận được từ cha mẹ. Nếu những đứa trẻ không có năng lực tự khẳng định mình kém, không tự tin, hãy để chún tạm quên đi bản thân, tìm những việc khiến chúng “quên mình”, Ví dụ nhặt rác xung quanh nhà, chủ động nói chuyện với những đứa trẻ bị bắt ntj ở trường, giúp người già đi lại khó khăn xách đồ,…những việc nhỏ hơn nữa cũng không sao, khuyên lũ trẻ hành động vì người khác. Cứ như vậy giúp trẻ khôi phục được năng lực tự khẳng định mình. Lấy lại sự tự tin, trưởng thành của trẻ sẽ hướng về một tương lai tươi sáng.

8. Giúp trẻ có trái tim biết ơn, nếu không có trái tim biết ơn “nhờ phước của bạn” bất kể có bao nhiêu tiền vẫn là người nghèo. Bất kể có người bao nhiêu ngươi vây quanh vẫn là người cô đơn.

9. Tình yêu, tình bạn, sự ấm áp và hồi ức mà tiền bạc không mua được có thể làm phong phú cuộc đời của bạn. Nhắc tới giáo dục tiền bạc cho con cái thường là nói cho trẻ biết tầm quan trọng của tiền bạc. Ví dụ dạy chúng dự trù xong hẵng mua đồ, đưa thẳng tiền tiêu vặt cho chúng để chúng suy nghĩ xem sử dụng như thế nào. Còn tôi thì không dạy con dùng tiền để mua sắm mà bắt đầu dạy từ những thứ tiền không mua được. Tiền mặc dù rất quan trọng nhưng quá dựa dẫm vào tiền bạc sẽ bị tiền bạc khống chế. Nhiều người đều vì tiền mà mất đi thứ quan trọng nhất của cuộc đời. Do dậy đầu tiên tôi dạy hai đạo lý như thế này “cho dù không có tiền, vẫn còn rất nhiều niềm vui khác”, “còn có nhiều thứ khác quan trọng hơn tiền”.

Trần Mỹ Linh

10. Có dũng khí để “khác biệt”: khác biệt với mọi người thực ra là một quà trời ban. Xã hội cần những nhân tài có thể tự do thể hiện mình. Trong xã hội Nhật Bản có một trào lưu thế này, cho rằng trình độ bình quân là thoả đáng nhất”. Quá nổi bật sẽ thu hút ánh mắt người khác, nhìn có vẻ rất tự mãn. Có lẽ các bạn nhỏ cũng ý thực được nên đã tự phòng bị mình và cho rằng ngoan ngoãn không nổi bật là tốt nhất. Những tư tưởng cũ kĩ này đã lỗi thời rồi. Thời đại sau này muốn tìm kiếm những tư tưởng khác biệt. Thế giới này luôn kỳ vọng những sự hoàn toàn mới được sản sinh, thứ mà thế giớí này cần là những nhân tài có thể thông qua việc tự do tưởng tượng và biểu đạt để sáng tạo ra trào lưu mới khác biệt. Muốn như vậy thì điều quan trọng là không sợ ánh mắt của người khác. Giải phóng nội tâm của bản thân. Nếu một người không có sự tự tin thì không thể làm được điều này. Tôi không hi vọng con mình trở thành một con người dễ dàng hùa theo người khác để người khác thích mình, bẻ cong ý kiến của bản thân mà thoả hiệp.

11. Không sợ thất bại. Thất bại chắc chắn không phải là việc xấu. Sợ thất bại không dám hành động mới là việc xấu nhất. Cho dù thất bại, cứ coi nó là một bước phải trải qua trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo là được. Thất bại không phải là chuyện xấu, sợ thật bại không dám hành động mới là chuyện đáng sợ nhất. Những người hài lòng với hiện tại mà ngừng lại không tiến về phía trước, nếu những người xung quanh đều đang tiến lên, có nghĩa là bản thân mình đang thụt lùi. Thời đại luôn tiến về phía trước, con người cần phải hành động. Nếu chỉ có bạn dừng lại không tiến lên, bạn sẽ mất đi tất cả.

12. Lựa chọn con đường khó đi nhất. Luôn giữ vững tinh thần hướng về phía trước của người thách thực là điều kiện để trở thành nhân tài mang tính toàn cầu. “Lúc hoang mang hãy chọn con đường khó đi nhất” đó là lời dạy của cha tôi để lại. Ví dụ khi vẫn còn bài tập chưa làm xong nhưng muốn xem tivi, vậy cái nào khó hơn. Đương nhiên là bài tập. Nghĩ như vậy sẽ không hoang mang , làm bài tập xong rồi xem ti vi. Ví dụ nữa “mục tiêu là thi đỗ Stanford hay một trường đại học bất kỳ nào đó”, khi các con mơ hồ về chuyện này thì Stanford khó hơn, do vậy đã chọn Stanford làm mục tiêu. Cứ như vậy, chọn con đường khó nhất thì chúng ta buộc phải cố gắng nhiều hơn, nhưng nhìn vào kết quả thì có thể nâng cao bản thân mình. Khi đưa ra lựa chọn quan trọng, hãy luôn chọn con đường khó đi nhất.

13. Biết báo ơn, con người luôn chăm sóc lẫn nhau giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Việc giáo huấn của Nhật Bản “không gây phiền phức cho người khác” đôi khi cũng mang lại một số sai lầm cho trẻ. Trên thực tế con người bắt đầu từ khi sinh ra đã chăm sóc lẫn nhau mà sinh tồn. Con người luôn sống trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, thấu hiểu và tha thứ cho nhau. Do vậy, hãy dạy trẻ phải luôn báo đáp người xung quanh.

14. Có 15 loại sức mạnh muốn tặng con đó là: Trí lực; khả năng đọc hiểu; khả năng tập trung; khả năng tưởng tượng; khả năng thấu hiểu xuyên quốc gia; khả năng học tập; có sức khoẻ tốt; khả năng phán đoán; khả năng đặt câu hỏi; khả năng lắng nghe và trình bày ý kiến; khả năng cảm nhận quan sát; khả năng cười; khả năng kiềm chế; khả năng tuỳ cơ ứng biện; khả năng nghi vấn.

Nguồn trích: 50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford – Tác giả: Trần Mỹ Linh, dịch giả: Thuý Trang, NXB Phụ nữ, Công ty văn hoá Pingbooks, 2018

Hoa cẩm chướng trong mưa – 1979 – Trần Mỹ Linh
tản văn trương tiểu nhàn
Tản văn Trương Tiểu Nhàn
Mặt trời lặn bốn mươi lần
Tuyển tập những tản văn hay Trương Tiểu Nhàn

Căn nhà tôi ở lúc còn nhỏ có thể nhìn thấy mặt trời lặn. Khi hoàng hôn, một vừng nắng đỏ như viền quanh cửa sổ, tôi thường ngồi trước cửa sổ chờ mặt trời đỏ rực lặn xuống đường chân trời. Rời xa ngôi nhà ấy đã nhiều năm rồi, tôi luôn mơ ước sẽ có lại được một ngôi nhà mà ở đó có thể ngắm  mặt trời lặn lúc hoàng hôn. Bạn tôi nói: “Nhà nào có thể nhìn mặt trời lặn tức là nhà hướng tây, không tốt cho lắm”.Nhưng những ngôi nhà tôi ở đều hướng tây cả, có lẽ đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, tôi có duyên với mặt trời lặn chăng, khi nhìn mặt trời lặn xuống, tôi có cảm giác thế giới này vẫn thật đẹp. Tôi sinh ra vào giữa ban ngày, nên không mơ mộng nhiều với những ánh trăng sáng tỏ vào ban đêm. Người ta thường nói ánh trăng đêm lãng mạn thế nào, buồn thế nào, nhưng tôi lại thấy rằng mặt trời lặn còn buồn hơn nhiều so với những đêm tròn trăng.

Hoàng tử bé sống trên một tiểu hành tinh, mỗi ngày cậu bé chỉ cần nhích ghế của mình sang một chút là có thể lại nhìn thấy mặt trời lặn, có một ngày cậu bé nhìn thấy 44 lần mặt trời lặn. Hoàng tử nói “KHi chỉ có một mình và đang có nhiều nỗi muộn phiền, ta lại đi ngắm mặt trời lặn.”

tản văn trương tiểu nhàn

tản văn trương tiểu nhàn

Chúng ta không phải hoàng tử bé, chúng ta sống trên trái đất, mỗi ngày chúng ta chỉ có thể một lần nhìn ngắm mặt trời lặn mà thôi. Cuộc đời của mỗi người, liệu có thể có bao nhiêu lần được nhìn ngắm mặt trời lặn? Mỗi ngày chỉ có một lần mặt trời lặn thì cũng nên để mỗi chúng ta nhiều nhất chỉ muộn phiền một lần thôi.

Khi hoàng hôn buông xuống, đi trong cánh rừng thưa, bỗng nhiên cảm thấy thật buồn, không biết nên đi đâu về đâu nữa, thế là vội vàng chạy về ngắm mặt trời lặn. Lúc về đến nhà, những tia nắng còn sót lại vừa kịp chiếu lên bàn với vài cuốn sách, hoá ra thời gian cũng có những giây phút thật tàn nhẫn vậy mà tôi chưa hề nhận thấy.

Mặt trời lặn dù sao cũng còn vui hơn những đêm trăng sáng.

 

Các bài học của thiền sư Thích Nhất Hạnh

#2. Khi bạn đang chịu khổ đau vì giận hơn

Lược trích: Phụ bản B – Sách “Giận” của Nhà XB Thanh niên

Khi bạn đang phải chịu khổ đau vì giận hờn:

1. Không nói hoặc làm bất cứ điều gì có thể tạo thêm đổ vỡ và làm cho cái giận của hai bên lớn thêm

2. Không đè nén cái giận xuống, không đàn áp sự giận hờn của mình

3. Nắm lấy hơi thở, thực tập hơi thở chính niệm, quay về nương tựa tự thân.

4. Cho người kia biết là mình đang giân và đang khổ trong thời gian tối đa là 24 tiếng đồng hồ.

5. Bình tĩnh xin hẹn gặp người kia vào tối thứ Sáu để cùng nhau nhìn lại vấn đề cho rõ.

6. Nếu chưa được bình tĩnh để có thể nói thẳng thì có thể viết một giấy hẹn và đưa cho người kia.

7. Đừng tự ái nói: “Tôi đâu có giận – Có sao đâu – Tôi có khổ gì đâu – Không đáng để cho tôi giận”

8. Trong khi đi, đứng, nằm ngồi, lái xe hoặc làm việc, hãy thực tập hơi thở chính niệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:

  • Đôi khi tôi cũng thiếu chính niệm, thiếu khéo léo.
  • Tôi đã làm cho người kia buồn khổ nhiều lần vì tính khí của tôi
  • Hạt giống của sự giân hờn trong tôi là nguyên nhân chính làm tôi đau khổ.
  • Người kia cũng đang khổ cho nên mới làm như vậy
  • Chừng nào người kia còn khổ, chừng ấy tôi vẫn chưa có hạnh phúc.

9. Nếu thấy được sự vụng về và thiếu chính niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi người kia ngay, đừng để đến chiều thứ Sáu.

10. Nếu tối thứ Sáu mà vẫn chưa đủ bình tĩnh thì xin dời hẹn đến thứ Sáu tuần sau.

Text-Divider

Người có trách nhiệm về việc làm cho người kia phải giận hờn

cơn giận - thiền sư thích nhất hạnh

cơn giận – thiền sư thích nhất hạnh

1. Thấy người kia giận thì đừng chế nhạo. Phải tôn trọng cảm thọ của người ấy và để cho người ấy đủ thì giờ lấy lại sự an tịnh

2. Đừng ép người kia phải giải bày liền về cái giận của người ấy.

3. Nói với người kia là mình đã nghe hoặc đã biết rằng người kia giận, bằng lời nói hay bằng cách viết lên một mảnh giấy và hứa với người kia rằng mình sẽ có mặt vào chiều thứ Sáu.

4. Trong khi đi, đứng nằm ngồi, lái xe hoặc làm việc hãy thực tập hơi thở chính nhiệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:

– Trong tôi cũng có những hạt giống không dễ thương của bực bội và hờn giận

– Tính khí trong tôi đã có nhiều phen gây ra đau khổ cho người kia

– Tôi tưởng làm cho người kia đau khổ thì tôi sẽ bớt khổ, nhưng tôi đã làm

– Làm cho người kia đau khổ, tôi cũng làm cho mình khổ theo

5. Nếu thấy được sự vụng về và thiếu chính niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi ngày, đừng chờ đến chiều thứ Sáu. Xin lỗi nhưng đừng tìm cách biện bạch.

Sách Giận - Thích nhất hạnh
Các bài học của thiền sư Thích Nhất Hạnh
#1. GIẬN của Thiền sư Thích Nhất Hạnh (lược trích)
Nhà xuất bản Thanh niên

Chúng ta đang sống trong một thời đại với biết bao phương tiện truyền thông tinh xảo. Tin tức có thể được truyền đi xa vạn dặm trong nháy mắt nhưng đồng thời truyền thông giữa chúng ta, giữa cha và con, giữa bạn bè, giữa vợ và chồng thì lại rất khó khăn. Nếu không thiết lập lại được truyền thông giữa ta và những người khác thì không thể nào có được hạnh phúc. Nếu không thiết lập truyền thông giữa ta và những người khác thì không thể nào có được hạnh phúc…

Tất cả chúng ta cần phải biết đó là cách xử lý và chăm sóc cơn giận. Muốn vậy ta phải chú ý đến khía cạnh sinh-hóa (bio-chemical) của sân hận, bởi vì cơn giận có gốc rễ từ thể chất cũng như từ tinh thần. Phân tích cho sâu sắc, ta có thể khám phá ra những yếu tố sinh lý của cơn giận. Vì vậy cần xét kỹ lại cách ăn, uống, tiêu thụ cũng như săn sóc thể xác trong đời sống hàng ngày.

Sân hận, bực bội, tuyệt vọng, tất cả đều có gốc rẽ từ thể chất của ta và các thức ăn ta tiêu thụ. Ta phải có một kế hoạch ăn uống tiêu thụ như thế nào để cho khỏi phải bị sân hận và bạo động xâm chiếm. Ăn uống là một khía cạnh của văn minh xã hội. Cách ta chế tác thức ăn, các loại thực phẩm ta tiêu thụ, cách ta ăn uống, tất cả đều có quan hệ tới nền văn minh, bởi vì sự lựa chọn của ta trong việc ăn uống có thể đem lại hòa bình và làm vơi bớt khổ đau.

Text-Divider

Thức ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát khởi sân hận. Thức ăn có thể chứa đầy sân hận. Khi ăn miếng thịt của một con bò bị bệnh “bò điên” (mad cow disease) thì cái chất điên của con bò có sẵn trong miếng thịt. Không những thế, khi ăn một quả trứng hay một miếng thịt gà ta cũng phải biết rằng quả trừng hay miếng thịt gà đó cũng có thể chứa đầy “chất sân hận”. Chúng ta ăn chất sân hận sẽ phát khởi sân hận.

Hiện nay người ta nuôi gà theo kiểu sản xuất hàng loạt trong những nông trại tối tân. Trong các nông trại

Sân hận - Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Sân hận – Thiền sư Thích Nhất Hạnh

này, gà không được thả rông tìm ăn ngoài vườn mà bị nhốt trong các chuồng chất hẹp. Trong các chuồng ấy, ngày đêm gà chỉ có thể đứng một chỗ, không thể đi tìm ăn như gà thường. Chúng chỉ được người nuôi bằng thức ăn chế sẵn. Hãy tưởng tượng ngày đêm chúng ta bị nhốt đứng yên một chỗ, không được phép đi lại, chắc chắn chúng ta sẽ nổi điên. Gà cũng vậy, Gà bị nhột như vây cũng sẽ nổi điên. Để cho gà đẻ trứng nhiều hơn, người ta dùng ánh sáng nhân tạo trong trại nuôi để tạo ra ngày và đêm ngắn hơn 24 giờ khiến gà theo nhịp độ ánh sáng mà đẻ trứng nhiều lần hơn, cung cấp nhiều trứng hơn. Gà được nuôi bằng phương pháp trên đây chắc chắn là bực bội, đau khổ vô cùng cho nên thường hay cắn mổ gà các chuồng bên cạnh có khi đến chết. Vì vậy mà trong các nông trại này người ta thường phải cắt cụt mỏ nhọn các con gà.

Thế nên khi ăn trứng hay thịt các con gà nuôi theo phương pháp trên là ăn căm giân, bực bội của các con gà đó. Vì vậy ta phải cẩn thận lắm mới được. Nếu ăn sân hận vào thì sẽ dễ phát khởi sân hận. Nếu ăn bực bội, tuyệt vọng vào thì sẽ khởi phát bực bội, tuyệt vọng.

Tâm sân hận được nuôi dưỡng không phải chỉ bằng các thức ăn mà còn bằng những gì ta tiêu thụ qua mắt, tai, và ý thức. Như vậy tiêu thụ những sản phẩm văn hóa cũng có liên quan tới tâm sân hận. Cho nên hoạch định một đường lối tiêu thụ là rất quan trọng. Tất cả những gì ta đọc trong báo chí , xem trên truyền hình đều có thể độc hại vì có thể chứa đầy những yếu tố sân hận, bức xúc. Một cuốn phim trên màn ảnh, cũng như một miếng thịt bò, có thể chứa đầy sân hận. Báo chí cũng như  chuyện trò cũng có thể chứa đầy sân hận. Đôi khi vì cảm thấy trống trải mà ta chuyện trò, Nhưng chỉ nội trong một giờ những lời nói của người kia có thể đưa vào tâm thức ta rất nhiều độc tố. Nếu ta tiêu thụ quá nhiều độc tố sân hận thì một ngày nào đó sân hận sẽ phát khởi.

Tản văn Chu Quốc Bình

Giới thiệu một số tản văn của Chu Quốc Bình (tiếp)

#1. Bàn luận về thường tâm

Dịch: 常心 blog Chu Quốc Bình

Trên thế giới có một số thứ mà bản thân bạn không thể kiểm soát được, chẳng hạn như vận may và cơ hội, dư luận và dèm pha bôi nhọ. Vậy thì đừng để ý đến nó nữa mà cứ thuận tự nhiên thôi.

Trên thế giới có một vài thứ mà bản thân bạn có thể kiểm soát được, chẳng hạn như niềm vui và chí hướng, cách xử thế và làm người. Vậy thì hãy cố gắng kiểm soát thật tốt, cố gắng cho đến khi dù kết quả thế nào đi nữa cũng để thuận theo tự nhiên. Chúng ta không ngăn cản việc theo đuổi điều tốt đẹp nhất – như cuộc sống tươi đẹp nhất, nghề nghiệp tốt nhất, hôn nhân hạnh phúc nhất, tình bạn đáng quý nhất,…

Điểm mốc thấp nhất trong xã hội chính là sự bình thường, cao hơn một chút là siêu phàm thoát tục, nhưng điểm cao nhất chính lại quay trở lại bản chất bình thường.

Tham vọng, dã tâm nếu có thể giảm đi sẽ trở thành thường tâm, nhưng cùng lúc đó có thể nâng cao lên một chút thành cái tâm có trí tuệ

Đừng buộc sự xoàng xĩnh tầm thường trở thành một điều gì đó quá vĩ đại nhưng cũng đừng vì chỉ một việc tưởng bình thường mà không đón nhận nó.

Text-Divider

#2. Trật tự cuộc sống

Bản dịch Chu Quốc Bình của Đài phát thành quốc tế Trung Quốc

Thời gian dùng để tìm hiểu về người khác của mọi người quá nhiều, thời gian dùng để tìm hiểu về bản thân lại quá ít. Đây là một thói quen sống ngu dốt, nhưng đa số mọi người vẫn sống như vậy trong phần lớn thời gian của mình.

Suốt ngày vùi đầu vào máy tính, ra vào cuộc sống ảo trên mạng Internet, liệu mọi người giữ lại bao nhiêu không gian cho mình? Từ việc đại sự định hướng đời người đến việc nhỏ mọn như lựa chọn ăn ở, đi lại, có bao nhiêu là theo kịp người ta, lại có bao nhiêu là sự phán đoán chỉ mình mới biết?

Con người cần phải có nhân cách độc lập, cuộc sống độc lập, vậy thì cần hiểu rõ ba câu hỏi: Tôi muốn làm gì? Tôi có thể làm gì? Tôi cần phải làm gì?

Tôi muốn làm gì là chỉ lý tưởng, tôi có thể làm gì là chỉ khả năng, tôi cần phải làm gì nói lên sự sinh tồn. Vương vấn trong đời người thường là trật tự của ba câu hỏi không cân bằng này đã xuất hiện sự đảo lộn.

Text-Divider

#3. Bàn về được và mất 

(Dịch từ 论得失 của Chu Quốc Bình)

Từ khi chúng ta chào đời, điều đầu tiên chúng ta có được đó là sự  sống của mình. Từ đó về sau, chúng ta không ngừng có rất nhiều thứ nhứ tình yêu thương của cha mẹ, ăn mặc, đồ chơi, tình yêu và sự nuôi dưỡng. Trong xã hội, chúng ta có được sự đào tạo nghề nghiệp và bồi dưỡng về văn hóa. Khi trưởng thành, chúng ta dựa vào nỗ lực của bản thân và xu hướng tự nhiên để không ngừng có được tình yêu, gia đình và con cái. Chúng ta có dược tiền tài, danh tiếng, địa vị, đạt được thành công trong công việc và sự thừa nhận của xã hội. Cứ như thế, điều chúng ta đạt được là rất nhiều.

Đương nhiên, theo lẽ có được hẳn có mất. Trong hành trình chúng ta đạt được nhiều thứ cũng sẽ phải trải qua những sự mất mát không giống nhau.Tuy nhiên, mỗi con người đều khá dễ dàng cho rằng những điều chúng ta có là điều đương nhiên, là điều bình thường nhưng đối với sự mất đi là không nên, là điều không bình thường. Chính vì thế, mỗi khi mất đi thứ gì đó, chúng ta không tránh khỏi sự ấm ức và khi mất đi càng nhiều thì chúng ta càng uất ức. Chúng ta ngầm hạ quyết tâm phải tìm bằng được cái mới, bù đắp những gì có mà mất đi. Trong bản vẽ kế hoạch của chúng ta, con đường đi của cuộc đời dường như hàng loạt những thứ giành được sẽ vẽ ra nhưng những gì mất đi thì tất phải tìm cách tẩy xóa sạch như khi chúng ta vẽ sai. Cho dù việc mất mất, thất bại là một điều rất bình thường nhưng chúng ta dường như không thể quen với điều đó…

Tản văn Bàn về được và mất của Chu Quốc Bình
Tản văn: Bàn về được và mất
Nguyên tác dịch từ: 周国平论得失
Tác giả: Chu Quốc Bình

Những thứ chúng ta mất đi không thể nào tìm lại được. Có thể chúng ta vẫn có khả năng tìm được những thứ khác, nhưng sớm muộn rồi cũng không còn. Cuối cùng ta cũng không tìm cách cứu vãn những thứ bản thân đã mất. Đã như thế, vì sao chúng ta lại quá coi trọng được và mất.

Những khiếm khuyết hoặc mất mát do khách quan, chẳng hạn như danh tiếng, địa vị, tài sản,… chỉ cần không ảnh hưởng đến khả năng sinh tồn của bản thân thì trên thực tế không nên đem lại những phiền muộn cho bản thân. Nếu như đau khổ chỉ vì bạn coi trọng thì càng coi trọng, càng đau khổ. Chỉ cần không quá coi trọng thì đến một sợi tóc cũng không bị tổn thương.

Đối với người keo kiệt thì niềm vui không phải do giá trị sử dụng của tài sản bản thân mang lại mà từ sự chiếm hữu tài sản. Mức độ thỏa mãn của bản thân từ quyền chiếm hữu mang lại vượt xa so với mức độ thỏa mãn sinh lý do bản chất sự vật mang lại.  Một lòng một dạ mong đợi sự vật phải có trong tay mình, dẫu cho vật đó đặt trên tận mặt trăng, chỉ cần tuyên bố rằng đã thuộc về ta rồi thì lúc đó mới mang lại niềm vui cho mình.

Đối với một con người xem trọng tiền bạc, việc kiếm tiền và tiêu tiền đúng là một điều phiền não. Lòng của họ đều bị đồng tiền chiếm hữu, không có dành niềm vui cho bất cứ điều gì khác. Con người vui vẻ chân chính trong thiên hạ, không kể tiền ít tiền nhiều đều tất phải vượt ra khỏi được con người coi trọng đồng tiền.

Con người giàu có là con người làm chủ được đồng tiền, người đó bất kể ít tiền hay nhiều tiền đều có thể có danh dự và uy nghiêm. Thế nhưng con người giàu có là nô lệ của đồng tiền thì cả cuộc đời vì tiền mà phục vụ, vì tiền mà khổ đau.

Đối với con người làm chủ được đồng tiền, điều quan trọng nhất đó là dứt bỏ mong muốn chiếm hữu đồng tiền và học được thái độ không chiếm hữu. Điều đó có nghĩa là hãy xem đồng tiền không phải là vật của bản thân, không kể đã nắm được trong tay hay sắp nắm được đều phải giữ một cự ly nào đó, tùy thời mà buông ra. Chỉ có như thế mới có thể đứng trước đồng tiền giữ được thái độ tự do, làm một con người tự do.  Hễ là con người có thái độ chiếm hữu đối với đồng tiền thì lúc đó con người bị chính đồng tiền chiếm hữu. Pontius Pilate thời Hy Lạp cổ đại đã nói chuyện về một người keo kiệt giàu có rằng: “Anh ta không phải là người tìm thấy giàu có mà chính là giàu có tìm thấy anh ta”.

Text-Divider

Chúa Giê-su cũng từng nói: “Con người giàu có muốn lên thiên đàng cũng khó như việc xâu con lạc đã qua lỗ kim“. Người giàu có mà  chúa Giê-su nhắc đến, có thể lý giải rộng hơn, là con người xem trọng những giá trị tầm thường của sự chiếm hữu quyền lực, tiền tài, danh vọng,… hơn giá trị tinh thần, là con người không dám vứt bỏ. Nếu như trong tâm không phân rõ, tất cả những thứ chúng ta đạt được trên thế giới đều sẽ trở thành các gánh nặng, biến chúng ta thành một con lạc đà thồ nặng, biến con đường chúng ta tới thiên đường cũng chỉ bé như lỗ kim mà thôi.

Nhà soạn kịch người Anh, George Bernard Shaw, đã nóiĐời người có hai bị kịch lớn nhất, một là không thể có được thứ mình yêu thích, bi kịch còn lại chính là đạt được cái mình thích”. Tôi đã từng bị thuyết phục bởi cách miêu tả này và khâm phục ông có thể diễn đạt được nỗi khổ của cuộc đời một cách nhẹ nhàng như vậy. Tuy nhiên,  chúng ta cũng có thể nói rằng: ” đời người có hai niềm vui, môt là không đạt được thứ mình yêu thích, do đó mình có thể kiếm tìm và sáng tạo; niềm vui còn lại là đạt được thứ mình thích, do đó mình có thể tận hưởng và thể nghiệm.

Tản văn Khoảng cách trong tình yêu
Nguyên tác dịch từ: 爱的距离
Tác giả: Chu Quốc Bình

Thân thiết nhưng không có nghĩa không có khoảng cách. Mối quan hệ giữa con người với con người đều cần có một cự ly nhất định và giữa hai người thương yêu nhau cũng không phải là một ngoại lệ. Đó là lý do tại sao hôn nhân dễ trở thành bi kịch bởi lẽ trên thực tế khách quan khoảng cách cần thiết đã không thể giữ được. Một khi không có khoảng cách này, cảm giác về khoảng cách mất đi và cùng với sự mất mát đó, hôn nhân sẽ không còn vui vẻ, cảm giác tự do, khoan dung và tôn trọng lẫn nhau, cuối cùng sẽ dẫn đến mất đi tình yêu.

Con người yêu thương nhau khi thân thiết cần giữ một khoảng cách, thậm chí sau khi đã kết hôn giữa hai người vẫn cần giữ một khoảng cách nhất định nào đó. Cái khoảng cách cần có đó chính là sự độc lập của mỗi cá nhân và cũng chính là sự tôn trọng.

Một đạo lý rất giản đơn chính là hai con người dù có yêu thương nhau rất nhiều nhưng tuyệt nhiên vẫn là hai cá thể độc lập, không thể nào biến thành một cá thể đồng nhất được. Một lý do khác phức tạp hơn một chút là cho dù nếu có thể đồng nhất làm một thì hai con người đó biến thành một cá thể cũng là điều khó chấp nhận được.

Một tình yêu tốt đẹp đều có sự bền chặt, tuy kéo ra được nhưng không thể nào chặt đứt được.

Con người hỗ trợ nhau sẽ không kìm hãm đối phương bởi chính họ đối với tình yêu đều có một sự tin tưởng nhất định. Không ai kiềm chế ai, nhưng cũng không ai có thể rời xa ai. Đó chính là tình yêu thực sự.

Mối quan hệ tốt giữa hai con người cần có tính đàn hồi, không phải là sự độc đoán chiếm hữu lẫn nhau cũng như không ủy mỵ phụ thuộc nhau. Con người yêu nhau sẽ đem lại cho đối phương mình món quà lớn nhất chính là sự tự do, tình yêu giữa hai con người để có sự tự do thì cần phải có sự nỗ lực nhất định. Nó kiên định nhưng không cứng nhắc, mềm mỏng nhưng không bám dính. Nếu như một tình yêu mà không từng trải qua sóng gió thì thật đáng sợ, trong tình yêu nếu như không còn không gian để thở thì sớm muộn gì cũng sẽ trở nên ngột ngạt, bức bối mà thôi.

Khi hai tâm hồn đồng điệu gặp nhau, trên cuộc sống thực tế lại phải giữ một cự ly nhất định thì mới có thể duy trì được sức hút lẫn nhau.

Gần quá sẽ trở nên nhàm chán, xa quá sẽ trở nên lạnh lùng. Đừng tiến đến quá gần bên mình nhưng cũng đừng để đi quá xa mình.

Text-Divider

Khổng tử nói “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vị nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán” (có nghĩa là theo Khổng tử đàn bà và tiểu nhân khó dưỡng, gần thì họ không tôn kính, xa thì trách oán). Câu nói này thật không công bằng đối với phụ nữ. Kỳ thực “cận chi tắc bất tôn” (gần thì không còn tôn kính) đều chỉ chung cho một quy tắc về mối quan hệ giữa con người với nhau mà không chỉ riêng gì phụ nữ. Quá gần thì không có quân tử, ai cũng đều có khả năng trở thành hoặc buộc phải trở thanh tiểu nhân vô lễ và thô lỗ. Do đó, khi con người qua lại với nhau, bất luận là tình yêu, hôn nhân hay tình bạn thân thiết nào đi chăng nữa đều có thể giữ một khoảng cách nhất định để mối quan hệ tốt hơn. Quân tử cách xa tiểu nhân là điều dễ bởi nếu tiểu nhân oán thì cứ để họ oán. Thế nhưng quân tử cách xa nữ nhi là một điều khó. Khổng tử trong thâm tâm hiểu rằng “ông chưa từng gặp một ai hiếu đức hơn hiếu sắc”. Không thể lại gần mà cũng không thể cách xa phụ nữ. Đàn ông thật khốn khổ phải không. Vậy, câu nói của Khổng Tử có phải đã phản ánh nỗi khổ của người quân tử là do phụ nữ gây ra hay không?

Nếu như nói rằng khoảng cách ngắn có thể thúc đẩy tình yêu thì xa cách lâu dài có thể giết chết tình yêu, vậy thì kết hôn so với chưa kết hôn sẽ có một thuận lợi hơn bởi vì bản thân nó đã loại bỏ được khoảng cách quá xa. Chúng ta chỉ cần duy trì một khoảng cách hợp lý là ổn rồi.

Gia đình là một cái tổ, chúng ta đương nhiên hy vọng có một cái tổ ấm áp, dễ chịu và bình yên và không khí nồng ấm. Thế nhưng chúng ta cũng cần nhớ rằng nếu như muốn duy trì lửa ấm tình yêu trong ngôi nhà ấy thì cũng cần có những trắc trở và mâu thuẫn, vui có buồn có. Nếu như hương vị đến độ, chúng ta thử xóa đi tất cả những gì được xem là lạc điệu, kết quả sẽ không thể xóa được tính cách của đối phương. Bên cạnh đó, tạo ra áp lực cho tình cảm dẫn đến một sự bình yên giả tạo để che dấu những khác biết rốt cuộc sẽ biến thành vết hương không thể hàn gắn được.

Tản văn: Giàu có và hạnh phúc
Nguyên tác dịch từ: 财富与幸福
Tác giả: Chu Quốc Bình

Trong thời đại ngày này, mọi người đều rất xem trọng sự giàu có. Tôi không bao giờ cho rằng tiền bạc không hề quan trọng bởi tôi không thanh cao đến mức như thế. Tuy nhiên cách nhìn của mình, tiền bạc là một thứ tốt nhưng không phải là thứ tốt nhất, chúng ta không nên vì những thứ tốt này mà đánh mất đi thứ tốt nhất. Vậy cái tốt nhất là gì? Đó chính là thứ mà tôi vẫn hay nhắc đến: sống thanh cao và tinh thần phong phú – những thứ mà có thể giúp chúng ta cảm nhận được hạnh phúc. Bạn có thể kiếm tiền, kiếm càng nhiều càng tốt, nhưng cần nhớ rằng điều thứ nhất là bạn không thể trong quá trình kiếm tiền là tổn hại đến giá trị quan trọng của cuộc sống, thứ hai là nên dùng tiền mà bạn kiếm được để đạt được giá trị quan trọng trong cuộc sống của bạn. Có như thế sự giàu có càng tăng lên trong cán cân của hạnh phúc.

Đương nhiên nếu như có nhiều tiền hơn một chút thì tự do sẽ càng tăng. R.W Emerson đã từng nói cái tốt nhất mà đồng tiền mang lại là bạn không cần nhòm ngó đến thứ của người khác. Nhân bần trí đoản, những thứ liên quan đến tiền bạc trong thế giới đầy dục vọng rất nhiều. Nếu như bạn có ít tiền hơn, cuộc sống sẽ trở nên khó khăn, có những lúc bạn không còn cách nào khác phải đi cầu cạnh người khác, trong lòng sẽ cảm thấy rất thương hại, cảm giác thất bại. Chính vì thế, thậm chí bạn là một người không tham tiền bạc nhưng nếu có nhiều tiền cũng là một điều rất tốt bởi trước những thứ do tiền mang lại bạn vẫn có thể giữ gìn tự trọng của mình và trước tiền bạc bạn có thể thu hoạch cho sự tự do.

Vì thế, tôi không chủ trương là thanh niên cần quá thanh cao hay hoàn toàn chỉ theo đuổi ước mơ tinh thần. Tôi cho rằng một người trẻ có rất nhiều mộng tưởng, viết rất nhiểu thứ về triết học. Thực tế viết cũng rất tốt nhưng lại không có khả năng mưu sinh mà cũng không thích kiếm tiền, kiếm nghề nghiệp cho mình thì cuộc sống thật lao đao. Anh ta cho rằng mình không giống như bao người khác thì nên theo đuổi một cuộc sống chỉ có tinh thần đơn thuần thì có thể phải đối mặt với sự túng khó và đau khổ. Tôi nói với anh ta rằng bạn trẻ không phải là Van Gogh bởi bạn sẽ không thể chịu nổi sự bần cùng, vì thế hãy làm một con người bình thường như bao người khác nhé. Đầu tiền cần phải giải quyết được vấn đề sinh tồn. Nếu như có được điều đó, bạn là người có tài năng thì sớm muộn gì sẽ có cơ hội đế phát triển những niềm đam mê tinh thần vốn có của mình. Trong cuộc sống không có ai là không có quyền được làm, tài hoa không phải là lý do của sự ưu đãi vốn có, bạn cần phải tranh đấu trong cuộc sống hàng ngày. Điều này có chút tàn khốc nhưng không thế còn cách nào khác.

Tản văn: Bàn về sự cô độc
Nguyên tác dịch từ: 论孤独
Tác giả: Chu Quốc Bình

Bạn và người thân, bạn bè và người quen của mình cùng nhau trải qua những năm tháng cuộc sống, bạn nhận thấy những người ấy trưởng thành và già đi xung quanh mình. Thế nhưng bản thân mình vẫn cảm thấy trưởng thành và già đi trong niềm cô độc, mỗi một năm tháng cuộc đời mà bạn đi qua cảm giác chỉ có mình bạn, hằn những dấu vết tháng năm trên thân thể và tâm hồn.

Lúc sống trong dòng đời hỗn độn, tôi chỉ muốn hướng đến sự cô độc. Lúc cô độc đó, tôi lại hướng nhìn những người chung quanh mình. Rốt cuộc để vượt lên sự cô độc đó chỉ có thể nương tựa vào người thân yêu giúp đỡ mình, nếu không như thế những người mà chỉ khiến tình trạng càng hỗn loạn hơn thì con người càng cảm thấy cô độc hơn. Đó là thứ cảm giác kích thích càng nhận rõ ra sự tồn tại của bản thân mình.

Cô độc hay ồn ào đều khó chịu đựng như nhau. Nếu như nhất định phải chịu đựng thứ đó thì tôi sẽ chọn lấy sự cô độc.

Học lấy được sự cô đôc, có thể trò chuyện với bản thân, nghe chính mình nói chuyện, đấy chính là sự thấu được sâu sắc.

Đương nhiên điều đó phải có một tiền đề: nếu như sự cô độc có thể học được

Sự cô độc trong tâm hồn và sự cô lập khó gần trong tính cách là hai vấn đề khác nhau.

Cô lập tự thủ là của con người yếu đuối, cô độc tâm hồn thuộc về con người mạnh mẽ. Hai người này không thể hoà làm một, bởi đối với người yếu đuối thì chọn sự cô lập bởi sợ hãi phải chịu tổn thương còn con người chọn sự cô độc bởi một tinh thần tuyệt vời.

Cô độc bởi có một tâm hồn đặc biệt không thể giao lưu chia sẻ, cô lập chỉ bởi vì tâm hồn nghèo nàn do đó gặp phải trở ngại trong giao lưu, chia sẻ.

Một người đứng độc lập không a dua theo ai lại không rơi vào sự cô độc, tại sao lại có thể như vậy? Tuy nhiên, cho dù tự chọn lấy con đường này đều sẽ cảm nhận được sự đáng sợ và khó chịu của sự cô đơn. Thượng đế đã ban cho chúng ta những linh hồn không giống nhau thế nhưng ngài lại tạo ra trong anh ta và những con người bình thường xung quanh những nhu cầu cuộc sống giống nhau, đây chính là tính bị kịch của tồn tại trong cuộc sống.

Text-Divider

Một tâm hồn càng phong phú thì sớm muốn càng có thể nhạy bén nhận thấy được những tàn khuyết, và từ đó cảm giác cô độc ngày càng cao. Trong nội tại của một tâm hồn phong phú đó sẽ phản chiếu thấy những khiếm khuyết của cuộc sống. Ngược lại, nếu như không hiểu được sự cô độc thì có lẽ là dấu hiệu của sự nghèo nàn trong nội tại.

Cô độc và sự sáng tạo, cái nào là nguyên nhân, là hệ quả? Có lẽ đó chính là mối quan hệ nhân quả. Nếu như một con người không có sự giao lưu với người khác sẽ càng có thời gian dành mối quan tâm thế giới tâm hồn, một người chỉ chuyên tâm sáng tạo sẽ dẫn đến ngày càng xa rời với thế giới chung quanh.

Có những thiên tài thật bất hạnh như Van Gogh và Nietzcher. Nỗi bất hạnh lớn nhất của họ không phải là không ai hiểu mình mà bởi vì sự cô độc trong tinh thần họ chỉ có thể dùng các sáng tác của mình để an ủi bản thân chỉ vì trong cuộc sống đương thời không cảm nhận được sự ấm áp của cuộc sống thế gian. Lúc họ sống họ tồn tại trong sự xa lánh ghẻ lạnh của những người xung quanh.

Những người cô độc tất không hợp thời, thế nhưng tất cả đều có thể trở thành xu thế trong đó có cả sự cô độc.

Tản văn Lương thiện – Phong phú – Cao quý

Nguyên tác dịch từ: 善良丰富高贵 

Tác giả: Chu Quốc Bình

Nếu như tôi là một nhà hiền triết đời trước đến thế giới hiện tại thì điều gì sẽ khiến tôi hoài niệm nhất?

Đó chính là 6 chữ: Lương thiện – Phong phú – Cao Quý

Chứng kiến người bệnh nghèo không thể trả các hóa đơn viện phí đắt cắt cổ, bệnh nhân đang nguy hiểm tính mạng chết đi, biết đến thương nhân buôn bán hàng giả, thuốc giả gây nên những căn bệnh cấp tính, mạn tính, nghe thấy tai nạn hàng ngày ở mỏ than và sự coi thường tính mạng con người, bóc lột lao động để đổi lấy doanh thu và lợi nhuận cao, nhìn thấy ngày đều diễn ra rất nhiều các vụ án mạng đôi khi cũng chỉ vì những đồng tiền ít ỏi hoặc những nguyên nhân rất nhỏ đã có thể cướp đi sinh mạng người khác. Hiền nhân chứng kiến sự thờ ơ lãnh đạm của lòng người mà kinh ngạc và hoài niệm sự lương thiện của con người.

Text-Divider

Lương thiện – sự cảm thông giữa số phận con người với con người – là một phẩm chất thông thường của con người. Nhưng trong thế giới hôm nay tính lương thiện ấy dường như đang trở thành điều hiếm có. Hiền nhân trong và ngoài nước đều nhận thức rằng sử cảm thông chính là điều phân biệt giữa con người và con vật, là cơ sở đạo đức của nhân loại. Nếu không có sự cảm thông, con người không còn là người, xã hội cũng không phải là môi trường sinh sống của con người nữa. Tại sao con người muốn quay trở lại thành con vật? Bởi chính vì sự  tê liệt và chết dần đi lòng cảm thông giữa con người với nhau. Lương thiện là giới hạn sơ khởi và cũng là giới hạn cuối cùng phân biệt giữa người tốt và người xấu.

Nhìn thấy ngày nay biết bao nhiêu con người lấy dục vọng về vật chất trở thành mục tiêu duy nhất của cuộc đời, cuộc sống chỉ xoay quanh việc kiếm tiền và tiêu tiền. Hiền nhân vì chứng kiến sự nghèo nàn của tâm hồn đó mà hoài niệm hai chữ phong phú.

Text-Divider

Phong phú – sự  đâm chồi, khai hoa và kết trái của tâm hồn con người, ông trời đã ban cho vạn vật khả năng hưởng thụ cao nhất của tâm hồn, vậy cớ làm sao con người lại vứt bỏ đi như một thứ vô giá trị như thế? Hiền nhân trong và ngoài nước đều biết một tâm hồn phong phú là khởi nguồn chân chính của hạnh phúc, sự vui vẻ của tâm hồn cao hơn biết bao nhiêu so với sự hoan lạc thể xác.  ông trời vốn dĩ công bằng, đều ban khả năng hưởng thụ của tâm hồn cho mỗi một con người. Bởi lẽ mỗi khi con người đã đạt được nhu cầu thiết yếu sinh tồn trong cuộc sống thì nhu cầu tinh thần này bắt đầu thức tỉnh, và càng ngày càng trở thành mục tiêu sống chủ yếu.

Thế nhưng đời sống tinh thần vĩnh viễn là điều trăn trở của con người trong thế giới vật chất, đời sống tinh thần như không phải suy nghĩ lớn lao, đi du lịch, đọc sách, thưởng thức nghệ thuật, hoạt động tinh thần tạo nên những con người có tâm hồn vui vẻ. Tại sao con người lại từ chối điều mà ông trời đã ban một cách công bằng bất kỳ con người nào. Không kể con người có bao nhiêu tiền nhưng họ làm sao có thể sống một đời nghèo nàn đến vậy?

Trông thấy những con người vì kim tiền và quyền lực đã đánh mất liêm sỉ của chính mình để làm việc bán rẻ sự tôn nghiêm của bản thân, sau đó lại dựa vào đồng tiền và quyền lực mua được đó để khinh thường và châm chọc một cách không đắn đo danh dự của người khác, hiền nhân chính vì những điều trông thấy đó mà kinh ngạc và hoài niệm hai chữ cao quý.

Text-Divider

Cao quý đã từng là giá trị được tôn trọng của rất nhiều thời đại, từng được xem là điều đáng quý hơn cả sinh mạng, thế nhưng cuộc sống hiện tại ít người nhắc đến nó nữa. Hiền nhân trong và ngoài nước đều biết rõ, con người cần có danh dự làm người, cần có nguyên tắc cơ bản sống của bản thân và không thể dễ dàng vứt bỏ nguyên tắc đó trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nếu như vi phạm nguyên tắc đó thì có nghĩa đã bản thân không thể làm người đúng nghĩa. Con người trong thời đại hiện nay dường như đã không biết danh dự là thứ gì? và không để người khác làm người, cố tình hiếp đáp và nhạo báng người khác bởi trên thực tế người khác nhìn họ đã không thể thấy một chút phẩm cách làm người. Đặc điểm của con người cao quý chính là rất tôn trọng người khác và lòng tự tôn của họ là biểu hiện đầy đủ nhất của con người cao quý. Linh hồn của con người cần có sự cao quý, con người nên có tinh thần quý tộc. Trên thực tế điều đáng hận nhất và cũng đau buồn nhất chính là những con người có tiền nhưng lại mang tinh thần của những kẻ tiện nhân.

Tôi nghe nói tất cả hiền nhân ở các thời đại đều muốn hướng đến con người hiện đại mà nói to rằng: Con người ơi, chúng ta cần một tấm lòng lương thiện, một tâm hồn phong phú, một tinh thần cao quý. Có như thế chúng ta mới không phải cảm thấy hổ thẹn khi sống trong xã hội con người, chúng ta mới có thể làm một người chân chính trên thế gian này.

Lương thiện, phong phú, cao quý – là những phẩm chất đáng hoài niệm nhất của con người. Tôi hy vọng rằng hôm nay chúng ta càng có nhiều người có những phẩm chất ấy.

Tản văn Người con gái đẹp trong mắt tôi

Nguyên tác: 我眼中的好女人

Tác giả: Chu Quốc Bình

Nếu như có một người con gái đến hỏi tôi nếu phải liệt kê 10 điều cần làm lúc tuổi trẻ thì đó là gì?

Thứ nhất: người con gái ít nhất nên yêu một lần và nhiều nhất là hai lần. Nếu lần thứ nhất không thành thì không tránh khỏi thất vọng, tuy nhiên tình yêu chân chính không dễ gì có được, nếu yêu quá nhiều sẽ không tránh nảy sinh sự hoài nghi đối với thật giả.

Thứ hai: cần phải có một số người bạn hữu tốt, có thể là bạn thân thiết, người con gái cũng có thể có bạn tri âm khác giới

Thứ ba: Nên học qua lớp dạy nấu ăn, biết làm một vài một tủ. Điều quan trọng không nhất thiết thành nghệ thuật thể hiện mà nhằm tạo nên niềm vui trong cuộc sống thường nhật hàng ngày của người con gái.

Thứ: Mỗi năm nên du lịch ngắn ngày, vài năm nên thu xếp đi du lịch dài ngày để có sự trải nghiệm và mở rộng tầm nhìn

Thứ năm: Luôn rèn luyện thể dục, nên tham gia một chương trình thế dục mà mình yêu thích

Thứ sáu: Hãy phấn đấu để có một nền tảng giáo dục tốt, cố gắng giỏi về một chuyên môn hoặc kỹ năng nhất định. Sau khi nắm bắt rồi nên cố gắng rèn dũa thành nghề giỏi của mình, ít nhất cũng có niềm vui thích với công việc mình đã lựa chọn. Nếu như không thành nghề giỏi, vẫn tiếp tục tinh thần tôn nghề kính nghiệp của mình đồng thời tìm kiếm niềm vui cho cá nhân mình

Thứ bảy: Cố gắng trở thành người yêu đọc những cuốn sách có chất lượng cao, mỗi lần bạn đọc được cuốn sách hay đều có thể tìm thấy được tri kỷ của riêng mình trong mỗi cuốn sách đó

Thứ tám: Con gái hãy yêu thích ít nhất một môn nghệ thuật, âm nhạc, khiêu vũ, vẽ tranh đều được. Có thể giúp bản thân có khả năng hãy tham gia hay sáng tác cho riêng mình, cũng có thể là niềm vui thú riêng

Thứ chín: Hãy trở thành người có thói quen viết nhật ký đều đặn. Điều này có thể giúp bạn học được cách đối phó sự cô đơn, trong sự cô đơn có tể tâm sự nhìn lại bản thân

Cuối cùng: trải nghiệm qua một sự vấp váp của cuộc sống mà không bị đánh bại. Chỉ cần không bị đánh bại, bạn có thể trở thành một người mạnh mẽ. Nếu không trải qua kinh nghiệm này bạn sẽ không biết được bản thân mình có nhiều sức mạnh đến chừng nào!

Tản văn Người con gái đẹp trong mắt tôi

Nguyên tác: 我眼中的好女人

Tác giả: Chu Quốc Bình

Một người con gái có sức thu hút thực sự thì sức thu hút đó không những chinh phục nam giới mà còn phải chinh phục cả nữ giới bởi bản thân họ vừa có sức hấp dẫn của tính cách vừa có sự hấp dẫn của cả nhân cách.

Người con gái tốt là hài hòa giữa vẻ đẹp của tính cách và sự thu hút của nhân cách. Một tình yêu đẹp hay một hôn nhân viên mãn cũng là sự kết hợp giữa sức hấp dẫn của tính cách và con người.

Sự thu hút của tính cách đủ để mê hoặc con người một lúc nhưng sức hấp dẫn của nhân cách khiến con người ngưỡng mộ cả đời người.

Nghệ thuật gia phải có tính bao dung cũng như sự cầu tiến, họ phải có phong cách đa dạng, tuyên ngôn khoáng đạt và tài năng để thúc đẩy bản thân tiến lên. Một người con gái tốt cũng vậy, một mặt họ phải có những thể nghiệm cuộc sống phong phú trong đó có cả tình yêu và tình bạn đối với người nam giới. Mặt khác vừa có khả năng kiểm soát bản thân, không quá chấp nhặt nhỏ nhen cũng không thể sống trong thế giới nhiều dục vọng mà không có phương hướng.

Những phẩm chất của nữ giới và một nhà nghệ thuật gia giống nhau: tự nhiên, đơn giản, không kiểu cách, không giả tạo. Đối với nam giới cũng thế.

Nữ nhi hiền hậu, nam giới tự cường. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ mà cứ thuận tự nhiên nữ giới cũng có sự mạnh mẽ, nam giới cũng có sự mềm yếu.

Vậy đặc điểm nào của người con gái mà tôi thích nhất?

Angelababy - Diễn viên Hoa ngữ

Người con gái đẹp trong mắt tôi – Tản văn Chu Quốc Bình

Lời đáp: sự hiền lành, thông minh, ân cần và tinh tế. Có một chút thuần khiết, không quá màng danh lợi bởi một khi người con gái lao vào danh lợi thì trở nên thiếu thẩm mỹ. Đương nhiên, cũng như người đàn ông khác, tôi vẫn thích người con gái ưa nhìn.

Tôi đặc biệt thích những người con gái có tính kiên cường và thông minh

Tính kiên cường là mức độ chịu đựng của tính cách. Người con gái kiên cường tính cách cương nhu, linh hoạt tự nhiên. Họ rất giỏi trong việc thỏa hiệp và trong thỏa hiệp cũng rất thông minh kiên trì. Họ không cực đoan cố chấp nhưng trong việc không cực đoan cố chấp ấy vẫn luôn có chủ kiến của mình.

Người ta thường nói ưu điểm của nam giới là sức mạnh, nữ giới là sắc đẹp. Thực tế sức mạnh cũng là ưu điểm của nữ giới chỉ có điểm khác biệt đó là sức mạnh nam giới biểu hiện ở sự tự cường, nữ giới chính là sự mềm mỏng mà cương quyết. Tính kiên cường chính là sức mạnh của nữ giới tạo ra bởi sự mềm mỏng.

Đối lập với tính kiên cường là sự nhu nhược hoặc ương ngạnh. Khi phải đối mặt với người con gái ương nganh, rất mệt. khi đối mặt với người nhu nhược, cũng rất mệt.

Thông minh của người con gái chính là khả năng hiểu được con người, tâm hồn mình. Người con gái thông minh, khi sinh ra đều có trí tuệ, khả năng hiểu ý người khác,  có thể lĩnh ngộ được bản chất của sự việc. Người con gái đó thuần khiết, nhưng trong sự thuần khiết đó lại có một sự sâu sắc đáng kinh ngạc.

Nếu như trí tuệ của nam giới thể hiện qua lý tính thì trí tuệ của nữ giới chính là sự thông minh. Sự thông minh dung hòa từ thể xác lẫn tinh thần, không bị ô nhiễm bởi trực giác, càng không bị đội lốt thành lý tính.Người con gái đẹp trong mắt tôi

Đối lập với sự thông minh chính là sự rỗng tuếch hoặc là sự quá phức tạp. Đối với những người rỗng tuếch thất nhạt nhẽo, đối với những người quá phức tạp cũng rất chán. Khi gặp gỡ những người con gái có sự sâu sắc thuần khiết đều khiến cho chúng ta cảm nhận được tiếng nói thự c sự của cả đôi bên.

Người con gái được gọi là phức tạp thể hiện qua cả sự phức tạp trong tình cảm, đối với công việc thì có sự toan tính và đầu óc cũng suy nghĩ phức tạp bởi họ luôn cố gắng lý giải một cách trừu tượng.

Trên thực tế, tính kiên cường và sự thông minh không thể tách biệt được. Tính kiên cường là biểu hiện ra ngoài của sự thông minh. Người con gái có khả năng hiểu được bản thân mình thì việc đối nhân xử sự mới có thể linh hoạt và khoan dung được.

Kết hợp của tính kiên cường và sự thông minh, thể hiện trí tuệ nữ tính chân chính cũng là một trong những lợi thế của người con gái. Đó không phải là sự khôn khéo vặt vãnh mà mang phong cách của một con người hiểu biết.

Một sự an bài của tự nhiên đó là sự tương y hỗ trợ của người đàn ông và người đàn bà của họ, không thể tách rời. Trong mắt của người đàn ông, một người phụ nữ quá ỷ lại thật đáng thương, một người quá độc lập thì đáng sợ và nếu sống với họ thì cuộc đời đôi khi mệt mỏi.  Tốt nhất là người phụ nữ vừa có sự phụ thuộc nhưng cũng cần độc lập – phụ thuộc trong tình cảm, độc lập trong nhân cách thì mới không đáng thương, đáng sợ mà đáng yêu.

Người con gái tốt cũng rất giỏi trong việc bảo vệ bản thân, họ hành động không phụ thuộc vào người ta làm thế mà phụ thuộc vào sự thông minh của mình. Họ có trực giác đúng đắn và trực giác đúng đắn chính là người bạn trung thành dẫn dắt cuộc đời mình, bản năng giúp họ đứng trước những thay đổi bất thường đều phải thận trọng và tỉnh táo.

(Còn tiếp)