50 bài học giáo dục trẻ từ người mẹ có ba con trai theo học Stanford (Phần 1)

Có 15 loại sức mạnh muốn tặng cho trẻ, gồm có:

1. Trí lực: cho trẻ xem nhiều, nghe nhiều, tiếp xúc nhiều, gặp gỡ nhiều người, gia tăng khớp thần kinh não bộ. Đối với trẻ nhỏ có một điểm rất quan trọng, cố gắng trải nghiệm nhiều, kích thích nhiều ngũ cảm vì giai đoạn này chính là lúc gia tăng kết nối khớp thần kinh (synapse). Về cơ bản số lượng tế bào não đều như nhau nhưng khớp thần kinh liên kết các tế bào thần kinh của mỗi người khác nhau. Số lượng khớp thần kinh càng nhiều, đại não càng vận đông nhanh. Giữa những người làm giáo dục có một nhận thức chung rằng trải nghiệm nhiều trước ba tuổi thì trước sáu tuổi có thể thuận lợi tham gia các hoạt động tập thể, trước tám tuổi nâng cao IQ chuẩn bị cho giai đoạn dậy thì. Đó là vì trước tám tuổi là thời gian sinh ra nhiều khớp thần kinh nhất. Sau 8 tuổi các khớp thần kinh không dùng tới sẽ bị biến mất. Bắt đầu từ thời điểm đó việc cá nhân thích hay ghét cái gì, sở trường hay sở đoản đã được xác lập.

2. Khả năng đọc hiểu: Muốn trẻ con thích học hành việc đầu tiên chính là khiến chúng yêu thích đọc sách. Nhật bản là quốc gia xuất bản nhiều loại sách tranh ảnh phong phú nhất thế giới. Trước khi các con biết ngóc đầu tôi đã bắt đầu đọc sách tranh cho các con nghe. Cũng không cần biết các con có hiểu hay không, mỗi lần có thời gian tôi đều nằm xuống, mở sách ra đọc cho chúng nghe. Ban đầu các con chỉ mở mắt nhìn theo, không lâu sau sẽ cười khi thấy cùng một bức tranh, hoặc tỏ vẻ muốn tôi nhanh chóng lật mở sách. Từ sớm tôi đã dạy cho con bảng chữ cái Hiragana, nên khoảng ba tuổi các con bắt đầu có thể tự đọc sách tranh. Từ khi các con được 5 tuổi, hầu như tôi đã đọc hết các sách văn học thiếu nhi cho các con nghe và thường xuyên dẫn con tới các thư viện. Con trai lớn rất thích các tác phẩm phi hư cấu, sách về vĩ nhân, khoa học tự nhiên như “Nhật ký côn trùng Fabre”, “Seton động vật ký”. Con trai thứ hai thích đọc văn học giả tưởng như Moby Dick, Tom Sawyer…

3. Khả năng tập trung: không có sự tập trung, bất cứ việc gì cũng không thể hoàn thành với hiệu suất cao được. Những đứa trẻ có thể tập trung tinh thần, có thể phát huy hết năng lực tập trung trong thời gian ngắn và dành được kết quả tốt. Để nâng cao sự tập trung cho con, tôi cùng các con chơi rất nhiều trò chơi. Tiến hành một số hoạt động trong thời gian dài, cần nhẫn nại sẽ nâng cao được khả năng tâp trung.

4. Khả năng tưởng tượng: kể cho trẻ nghe các câu chuyện hư cấu mình tự sáng tác, để khả năng tưởng tượng của trẻ vận hành hết tốc độ. Trong nhà tôi có một thói quen buổi tối trước khi đi ngủ tôi thường kể một số câu chuyện hư cấu do mình tự sáng tác cho các con nghe. Bắt đầu từ khi con trai lớn được hai tuổi, thói quen này kéo dài được hơn 10 năm. Câu chuyện tôi sáng tác tên là “Cuộc mạo hiểm của chú chim cánh cụt“, đó là một câu chuyện không có kết thúc. Tại sao chúng ta phải tự nghĩ truyện nhỉ? Một trong những lý do đó là muốn tạo ra ký ức thuộc về riêng chúng ta. Những câu chuyện chỉ nhà tôi mới có là một cách thể hiện tình yêu của cha mẹ. Một lý do khác là hy vọng thông qua câu chuyện được tận tai nghe có thể phát triển khả năng tưởng tượng của chúng.

5. Khả năng thấu hiểu xuyên quốc gia: thông qua việc chúc mừng ngày lễ truyền thống của các nơi trên thế giới, trẻ sẽ cảm nhận được sự đặc sắc của các nền văn hoá khác nhau. Ở nhà, tôi sẽ cố gắng cùng nhau mừng ngày lễ truyền thống các nước như Tết dương, tết âm, lập xuân, lễ tình nhân, ngày con gái, lễ phục sinh, tết thiếu nhi, Tết đoan ngọ, ngày của mẹ, ngày của cha, trung thu, halloween, lễ Tạ ơn, giáng sinh…Hồi nhỏ có những trải nghiệm tuyệt với như vậy thì lớn lên sẽ trở thành những hồi ức tuyệt vời.

Trần Mỹ Linh

6. Khả năng học tập: học điều mới mẻ là mang đến bữa tiệc thình soạn cho đại não. Hãy không ngừng mang tới cho trẻ những thông tin mới mẻ và thú vị nhé. Trước khi đi học, tôi hi vọng các con đích thân được trải nghiệm niềm vui học hành. Đầu tiên cách làm của tôi là cho các con vừa chơi vừa ghi nhớ chữ cái. Chữ Hiragana trong tiếng Nhật dễ nhớ nhất, trên tờ giấy B4, viết một chữ a thật to sau đó vẽ một con kiến nhỏ bên dưới. Tôi vừa xem vừa dạy chữ “Chữ này chính là chữ a trong chữ ant…

7. Có sức khỏe tốt: để đề phòng tăng đường huyết, tôi chưa bao giờ cho con uống đồ ngọt. Thực dục (giáo dục ẩm thực: dạy ăn đúng cách) có liên quan tới sự phát triển cơ thể trí lực và tình cảm của trẻ. Tôi đem lý thuyết liệu pháp ẩm thực Trung Quốc học được từ mẹ tôi áp dụng thực tế trong gia đình nhỏ của mình. Đầu tiên tôi quan sát tỉ mỉ thể chất của ba con trai, sau đó cho các con ăn thực phẩm phù hợp với thể chất từng người. Thể chất chia làm ba nhóm: nhiệt hàn (chỉ nóng trong người hoặc có tính lạnh), thực hư (tích lại cơ thể quá nhiều hoặc cơ thể bị suy nhược), táo ẩm (dễ bị khô hoặc bị phù thũng. Trong liệu pháp ẩm thực, ăn uống bổ sung các thực phẩm cơ thể còn thiếu là điều cơ bản nhất. Các loại đồ uống có hàm lượng đường cao sẽ khiến cho cơ thể trẻ có phản ứng tăng đường huyết. Trong thời gian ngắn chỉ số đường huyết cao, insulin tiết ra nhiều lượng đường bị phân giải khiến trẻ có tâm trạng vui vẻ, tinh thần háo hức nhưng lượng đường biến mất ngay lập tức, cơ thể vì muốn tiếp tục giữ trạng thái cao hứng sẽ muốn nhiều đường hơn nữa. Đó chính là nguyên nhân trẻ béo phì do hấp thụ quá nhiều đường. Dần dần việc tiết insulin của 1 số trẻ bị rối loạn, cuối cùng sẽ mắc bệnh tiểu đường.

8. Khả năng phán đoán: đặt câu hỏi cho trẻ, để trẻ nắm được tình hình đưa ra lựa chọn, khiến trẻ có thể suy nghĩ độc lập. Từ khi con còn nhỏ, tôi thường xuyên đặt câu hỏi cho các con. Ví dụ khi mua bánh gato, tôi sẽ cố ý hỏi “Mua vị nào được nhỉ? Mẹ không biết chọn”. Nếu con đáp “Con không biết” tôi sẽ hỏi tiếp” Trước đây mình mua vị socola rồi phải không? Lần trước nữa mình đã mua vị dâu tây. Hôm nay mua vị nào nhỉ?” cứ như vậy, cơ bản các con sẽ đưa ra ý kiến của mình. Chỉ đơn thuần là tán thành hoặc phản đối ý kiến của người lớn thì không thể bồi dưỡng khả năng suy nghĩ độc lập của trẻ được. Cho dù có phiền phức hơn nữa cũng nên thường xuyên đặt câu hỏi cho con, cung cấp dữ liệu cho con suy nghĩ.

9. Khả năng đặt câu hỏi: Nếu đứa trẻ thường xuyên đặt câu hỏi có suy nghĩ chu toàn, có thể nhận được nhiều tri thức hơn. Tôi thường xuyên dặn dò các con trai của mình “Nếu có điều gì không hiểu, bất luận là cái gì đi nữa thì nhất định phải đặt câu hỏi nhé”. Bởi ngại ngùng nên không hỏi là điều đáng tiếc nhất. Trong trường học cũng có một số giáo viên khiến người khác có cảm giác họ không cso thời gian rỗi để trả lời những câu hỏi thừa thãi. Gặp phải những tình huống như vậy thì tôi sẽ nói với các con: lúc này con hãy viết ra những câu không hiểu ra, sau đó hỏi giáo viên khác, hoặc hỏi bạn bè, hỏi mẹ hoặc bản thân tự tra cứu trên mạng. Khi không thể đưa ra câu trả lời rõ ràng tôi sẽ nghiêm túc nói với các con “Mẹ cũng không rõ lắm, hay là chúng ta cùng suy nghĩ nhé”

10. Khả năng lắng nghe, trình bày ý kiến: để trẻ con tham gia vào cuộc trò chuyện, bồi dưỡng khả năng lắng nghe, giao tiếp. Các con sẽ đưa ra những suy nghĩ thú vị và tự do của riêng trẻ con, có lúc tôi cũng thảo luận với các con một cách say sưa. Những đứa trẻ có khả năng lắng nghe đầu óc sẽ trở nên thông minh hơn. Vậy nên rèn luỵện như thế nào, bước đầu tiên đừng chỉ tiến hành trò chuyện giữa những người lớn với nhau, hãy để trẻ tham gia vào.

11. Khả năng cảm nhận quan sát: mẹ con cùng nhau làm báo cáo ngày hôm nay, trẻ sẽ dần trở nên thận trọng và chú ý hơn. Tôi nghĩ mỗi bậc cha mẹ đều có chung một nguyện vọng, đó chính là muốn biết trong một ngày của con mình đã xảy ra những chuyện gì. Nhưng trong đa số tình huống, trẻ đều không muốn chủ động nhắc đến. Vì thế tôi vẫn luôn duy trì hành động tự báo cáo một ngày của mình với con trước. Ví dụ như hôm nay mẹ đến đài truyền hình, trong chương trình có giới thiệu dâu tây rất là ngon, mẹ mang về một ít… Cứ như vậy các con cũng sẽ kể cho tôi nghe câu chuyện có ấn tượng sâu sắc nhất xảy ra trong một ngày của mình. Bồi dưỡng loại cảm giác này sẽ rất hữu ích cho việc viết văn hoặc là khi cần phải biểu đạt bản thân sau này.

12. Khả năng cười: Người không hài hước thì trông sẽ không ung dung. Trong quá trình nuôi dạy con cái, tôi hy vọng con mình đừng quên mất “sự hài hước”, hãy mang đến cho con thật nhiều nụ cười rạng ngời, để chúng thực sự cảm nhận được cuộc sống này thật tuyệt vời, mỗi ngày đều thật vui. Như cải biên bài hát, ghi âm lại giọng hát kỳ quái, kể các mẩu chuyện cười. Buổi tối quây quần bên bàn ăn nhất định phải tắt ti vi đi, vừa ăn cơm, vừa cùng nhau báo cáo lịch trình. Ở nước Mỹ, một người không có tính hài hước thường sẽ bị đánh giá là một người không có nội tâm ung dung.

13. Khả năng kiềm chế: Trước khi vào cấp ba là thời kỳ đại não phát triển mạnh, không nên để chúng sa đà vào những thứ có tính phụ thuộc cao như trò chơi điện tử hoặc truyện tranh. Tôi muốn ưu tiên để con chơi những trò chơi phát huy trí tưởng tượng hơn, đọc nhiều sách vở phát huy trí tưởng tượng hơn, vận động toàn thân nhiều hơn. Trong thời kỳ đại não phát triển then chốt, tôi không muốn con tôi chỉ thiên về một phương thức sử dụng đại não. Truyện tranh là do hình vẽ và chữ viết cấu thành, chỉ có đọc sách có chữ viết trẻ mới phát huy hết mức trí tưởng tượng, sau đo sáng tạo ra một thế giới mới trong trí não của mình. Mặt khác, tuy truyện tranh là một văn hoá rất tuyệt vời nhưng trước sau gì nó vẫn thiên về sức hút cụ thể của hội hoạ. Cá nhân tôi cho rằng, đối với trẻ mà nói, đọc sách có thể rèn luyện phát triển trí tưởng tượng nhiều hơn đọc truyện tranh.

Gia đình Trần Mỹ Linh

14. Khả năng tuỳ cơ ứng biến: mỗi ngày đều sống một cách linh hoạt và cân bằng, sẽ kích hoạt trí não của trẻ. Tôi thường nghe thấy lúc còn nhỏ phải cố định thời gian ngủ sớm dậy sớm, học tập cũng cần cố định thì mới có thể nuôi dưỡng được thói quen sinh hoạt và thói quen học tâp. Nhưng tôi chưa bao giờ chú trọng việc này, đều xem tình hình sức khoẻ của con, Học tập không phải cứ hết bài tập là xong chuyện mà là học cả đời. Ví dụ như, tại sao mưa lại rơi? khi học nguyên lý về mưa, nếu như bên ngoài có mưa tôi sẽ bảo các con bỏ bài vở xuống, mặc áo mưa và ủng chạy ra ngoài đi. Tiếp đó, thử nghe tiếng mưa rơi trên mặt đất, nhảy múa trong hồ nước nhỏ, cuốn sạch trơn lá rụng ở nắp cống, tìm xem có ốc sên trong công viên không… Không biết vì sao vừa về đến nhà là trẻ có hứng thú sâu đậm với mưa, chúng lật giở tấm bản đồ lượng mưa trên thế giới, xem ảnh của những khu vực khô hạn, trong đầu óc trẻ toàn là kiến thức liên quan đến mưa. Tôi cảm thấy như thế mới là học tập.

15. Khả năng nghi vấn: trong lòng có nghi vấn dẫn đến việc nảy sinh suy nghĩ mới, phát hiện mới. Xã hội hiện nay các loại phương tiện tuyên truyền nhiều vô kể. Một lượng lớn các thông tin ồ ạt chảy vào đầu, nếu hết thảy đều tin theo thì sẽ không có cách gì hiểu được thế giới thực sự, sẽ lầm lẫn thể nào là chân thức. Tôi luôn dạy các con mình không nên chỉ tin vào một bài báo, phải cố gắng chỉnh lý tin tức, nhìn nhận sự việc ở nhiều góc độ.

Nguồn trích: 50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford – Tác giả: Trần Mỹ Linh, dịch giả: Thuý Trang, NXB Phụ nữ, Công ty văn hoá Pingbooks, 2018

50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford (Phần 2)

Giáo dục là món quà đẹp nhất mà bố mẹ dành tặng cho con cái

~ Trần Mỹ Linh~ Ca sỹ, nhà văn viết tuỳ bút, tiến sỹ giáo dục học

Trần Mỹ Linh – 陈美龄

Trần Mỹ Linh sinh năm 1955 tại Hồng Công, cô là một ca sỹ nổi tiếng khắp Hồng Công, Đài Loan, Đông Nam Á những năm 60 và những năm 70 cô ra mắt tại Nhật Bản với ca khúc “Hoa ngu mỹ nhân”. Trần Mỹ Linh theo học chuyên ngành quốc tế học đại học Sophia Nhật Bản, tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý trẻ em đại học Toronto Canada và năm 1993 cô dành được danh hiệu tiến sỹ giáo dục học của Đại Học Stanford. Năm 2015, nối tiếp anh cả, anh hai, con trai thứ 3 của cô cũng được nhận vào trường đại học Stanford và trở thành đề tài bàn luận sôi nổi thời bấy giờ. Trong cuốn sách “50 bài học giáo dục từ người mẹ có ba con trai theo học Stanford”, Trần Mỹ Linh đã ghi chép lại 8 giác ngộ khi là phụ huynh, 11 mục tiêu giáo dục, 15 loại sức mạnh muón tặng cho con, 9 phương pháp bồi dưỡng đứa trẻ hiếu học và 6 gợi ý ứng phó với con trẻ trong thời kỳ dậy thì. Đây cũng là đúc rút kinh nghiệm, quan điểm sống của Trần Mỹ Linh khi cô từ bỏ con đường nghệ thuật ca sỹ thần tượng của mình vào những năm 70 – 80 và tham gia nhiều hoạt động từ thiện, giáo dục.

1. Phụ huynh chịu tất cả trách nhiệm giáo dục. Việc hình thành nhân cách không thể cứ vứt cho nhà trường rồi không quan tâm nữa. Trường học và giáo viên chỉ là người hỗ trợ quan trong trong việc giáo dục con cái. Cấp một, cấp hai dạy đọc viết, tính toán, cấp ba dạy đại học dạy kiến thức chuyên nghiệp cần thiết trong xã hội nhưng cách sống, quan điểm của giáo viên và cách nhìn nhận sự vật, sự việc chưa chắc đã hoàn toàn đúng đắn.

2. Không khiển trách, thử khen ngợi một cách phù hợp. Nếu chúng ta cứ bám lấy lỗi sai của con không tha chỉ khiến con hình thành thói xấu mà thôi. “Để trẻ lớn lên trong những lời khen ngợi” nhưng điều này không có nghĩa chuyện gì cũng cần khen. Quan trọng là cách khen phải phù hợp và khi khen thì không được nói dối. Rõ ràng là chữ viết không đẹp nhưng lại nói với trẻ là “con viết đẹp quá” như thế trẻ sẽ không đánh giá chính xác được bản thân. Cách khen như vậy không có lợi gì cho trẻ cả, chi bằng cứ cổ vũ động viên cho đến khi trẻ thấy thật sự tiến bộ mới khen ngợi hết lời. Câu khen ngợi thường xuyên nhất mà tôi sử dụng “Con có thể là chính mình, mẹ thực sự rất cảm ơn”.

Trần Mỹ Linh

3. Công việc của trẻ con là mơ mộng, giáo dục chính là dạy trẻ mơ như thế nào. Bố mẹ hãy hi vọng con có những giấc mơ vĩ đại mà cha mẹ không dám mơ. Chính vì các con có ước mơ, người lớn vì muốn ủng hộ chúng sẽ phải cố gắng hơn, như vậy sẽ mang tới nhiều sức sống cho xã hôi. Ngược lại nếu trẻ không chiu mơ nữa, xã hội sẽ trì trệ không tiến lên, tiến trình phát triển của nhân loại cũng sẽ ngừng lại. Hãy nói cho con biết thế giới này có rất nhiều khả năng, cho con những công cụ và tri thức cần thiết để thực hiện giấc mơ, giúp con có dũng khí để tiến lên phía trước, dạy dù khó khăn cũng phải đứng lên lạm lại, có đạt được mục tiêu cũng phải khiêm tốn, khoe khoang.

4. Đừng so sánh con với người khác. Mục tiêu đầu tiên của giáo dục là tự khẳng định mình bởi vì nội tâm tự công nhân được bản thân chính là cơ sở để hình thành nhân cách. Ngay cả bản thân mình cũng không thích thì không thể nào thích người khác được. Không so sánh với người khác thực ra chính là công nhận dáng vẻ chân thực nhất của trẻ. Bất kể trẻ có học tập tốt hay không, khả năng vận động mạnh hay không đều không có vấn đề gì. Không phải con làm được là con ngoan mà có cố gắng chính là con ngoan. Đối với trẻ mà nói, phần thưởng tốt nhất chính là sự yêu thương quan tâm từ những người xung quanh.

5. Những đứa trẻ có trái tim rộng mở sẽ biết nghĩ thay cho người khác, coi trọng bản thân. Những đứa trẻ không có trái tim rộng mở sẽ có lòng đố kị, kì thị người khác. Muốn dạy dỗ trẻ trở thành người biết nghĩ cho người khác, yêu thương người khác, nội tâm cần phong phú và rộng mở, chắc chắn không thể thiếu được giáo dục lòng tự tôn cho trẻ.

6. Đừng lãng phí khả năng tiềm tàng của trẻ. Bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra đều có sở trường của mình. Vậy tại sao có một số người có thể phát triển được tài năng của mình, có một số người cả đời chẳng có lấy một cơ hội phát triển. Sự khác biệt trong đó chính là ở chỗ có khả năng tự khẳng định mình hay không. Đứa trẻ có thể tự khẳng định mình sẽ ngây thơ thể hiện sở trường của mình. Như vậy người xung quanh dễ dàng phát hiện ra tài năng cua chúng và sẽ có cơ hội phát triển tiềm năng. Mặt khác một đứa trẻ mất đi sự tự tin sẽ không muốn thể hiện sở trường của mình ra ngoài bởi chúng lo lắng “Nếu mình nói ra câu này ra liệu có bị cười chê hay không?” và dần dần sẽ quên mất ưu điểm của mình. Hãy nói với trẻ “Nói ra suy nghĩ của con xem nào” để trẻ tích cực, tự do thể hiện bản thân, thể hiện ưu điểm của mình ra.

7. Dạy trẻ cảm nhận được hành vi của mình giúp đỡ được người khác thì có thể phục hồi khả năng tự khẳng định mình. Phần lớn trẻ nhỏ có được sự tự tin thông qua tình yêu thương nhận được từ cha mẹ. Nếu những đứa trẻ không có năng lực tự khẳng định mình kém, không tự tin, hãy để chún tạm quên đi bản thân, tìm những việc khiến chúng “quên mình”, Ví dụ nhặt rác xung quanh nhà, chủ động nói chuyện với những đứa trẻ bị bắt ntj ở trường, giúp người già đi lại khó khăn xách đồ,…những việc nhỏ hơn nữa cũng không sao, khuyên lũ trẻ hành động vì người khác. Cứ như vậy giúp trẻ khôi phục được năng lực tự khẳng định mình. Lấy lại sự tự tin, trưởng thành của trẻ sẽ hướng về một tương lai tươi sáng.

8. Giúp trẻ có trái tim biết ơn, nếu không có trái tim biết ơn “nhờ phước của bạn” bất kể có bao nhiêu tiền vẫn là người nghèo. Bất kể có người bao nhiêu ngươi vây quanh vẫn là người cô đơn.

9. Tình yêu, tình bạn, sự ấm áp và hồi ức mà tiền bạc không mua được có thể làm phong phú cuộc đời của bạn. Nhắc tới giáo dục tiền bạc cho con cái thường là nói cho trẻ biết tầm quan trọng của tiền bạc. Ví dụ dạy chúng dự trù xong hẵng mua đồ, đưa thẳng tiền tiêu vặt cho chúng để chúng suy nghĩ xem sử dụng như thế nào. Còn tôi thì không dạy con dùng tiền để mua sắm mà bắt đầu dạy từ những thứ tiền không mua được. Tiền mặc dù rất quan trọng nhưng quá dựa dẫm vào tiền bạc sẽ bị tiền bạc khống chế. Nhiều người đều vì tiền mà mất đi thứ quan trọng nhất của cuộc đời. Do dậy đầu tiên tôi dạy hai đạo lý như thế này “cho dù không có tiền, vẫn còn rất nhiều niềm vui khác”, “còn có nhiều thứ khác quan trọng hơn tiền”.

Trần Mỹ Linh

10. Có dũng khí để “khác biệt”: khác biệt với mọi người thực ra là một quà trời ban. Xã hội cần những nhân tài có thể tự do thể hiện mình. Trong xã hội Nhật Bản có một trào lưu thế này, cho rằng trình độ bình quân là thoả đáng nhất”. Quá nổi bật sẽ thu hút ánh mắt người khác, nhìn có vẻ rất tự mãn. Có lẽ các bạn nhỏ cũng ý thực được nên đã tự phòng bị mình và cho rằng ngoan ngoãn không nổi bật là tốt nhất. Những tư tưởng cũ kĩ này đã lỗi thời rồi. Thời đại sau này muốn tìm kiếm những tư tưởng khác biệt. Thế giới này luôn kỳ vọng những sự hoàn toàn mới được sản sinh, thứ mà thế giớí này cần là những nhân tài có thể thông qua việc tự do tưởng tượng và biểu đạt để sáng tạo ra trào lưu mới khác biệt. Muốn như vậy thì điều quan trọng là không sợ ánh mắt của người khác. Giải phóng nội tâm của bản thân. Nếu một người không có sự tự tin thì không thể làm được điều này. Tôi không hi vọng con mình trở thành một con người dễ dàng hùa theo người khác để người khác thích mình, bẻ cong ý kiến của bản thân mà thoả hiệp.

11. Không sợ thất bại. Thất bại chắc chắn không phải là việc xấu. Sợ thất bại không dám hành động mới là việc xấu nhất. Cho dù thất bại, cứ coi nó là một bước phải trải qua trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo là được. Thất bại không phải là chuyện xấu, sợ thật bại không dám hành động mới là chuyện đáng sợ nhất. Những người hài lòng với hiện tại mà ngừng lại không tiến về phía trước, nếu những người xung quanh đều đang tiến lên, có nghĩa là bản thân mình đang thụt lùi. Thời đại luôn tiến về phía trước, con người cần phải hành động. Nếu chỉ có bạn dừng lại không tiến lên, bạn sẽ mất đi tất cả.

12. Lựa chọn con đường khó đi nhất. Luôn giữ vững tinh thần hướng về phía trước của người thách thực là điều kiện để trở thành nhân tài mang tính toàn cầu. “Lúc hoang mang hãy chọn con đường khó đi nhất” đó là lời dạy của cha tôi để lại. Ví dụ khi vẫn còn bài tập chưa làm xong nhưng muốn xem tivi, vậy cái nào khó hơn. Đương nhiên là bài tập. Nghĩ như vậy sẽ không hoang mang , làm bài tập xong rồi xem ti vi. Ví dụ nữa “mục tiêu là thi đỗ Stanford hay một trường đại học bất kỳ nào đó”, khi các con mơ hồ về chuyện này thì Stanford khó hơn, do vậy đã chọn Stanford làm mục tiêu. Cứ như vậy, chọn con đường khó nhất thì chúng ta buộc phải cố gắng nhiều hơn, nhưng nhìn vào kết quả thì có thể nâng cao bản thân mình. Khi đưa ra lựa chọn quan trọng, hãy luôn chọn con đường khó đi nhất.

13. Biết báo ơn, con người luôn chăm sóc lẫn nhau giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Việc giáo huấn của Nhật Bản “không gây phiền phức cho người khác” đôi khi cũng mang lại một số sai lầm cho trẻ. Trên thực tế con người bắt đầu từ khi sinh ra đã chăm sóc lẫn nhau mà sinh tồn. Con người luôn sống trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau, thấu hiểu và tha thứ cho nhau. Do vậy, hãy dạy trẻ phải luôn báo đáp người xung quanh.

14. Có 15 loại sức mạnh muốn tặng con đó là: Trí lực; khả năng đọc hiểu; khả năng tập trung; khả năng tưởng tượng; khả năng thấu hiểu xuyên quốc gia; khả năng học tập; có sức khoẻ tốt; khả năng phán đoán; khả năng đặt câu hỏi; khả năng lắng nghe và trình bày ý kiến; khả năng cảm nhận quan sát; khả năng cười; khả năng kiềm chế; khả năng tuỳ cơ ứng biện; khả năng nghi vấn.

Nguồn trích: 50 bài học giáo dục từ người mẹ có 3 con trai theo học Stanford – Tác giả: Trần Mỹ Linh, dịch giả: Thuý Trang, NXB Phụ nữ, Công ty văn hoá Pingbooks, 2018

Hoa cẩm chướng trong mưa – 1979 – Trần Mỹ Linh
Jean Piaget

Jean Piaget sinh năm 1896 tại Thuỵ Sĩ, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã đóng góp hơn 60 cuốn sách và hàng trăm bài báo vào kho thành tựu. Mặc dù Piaget thường được nhắc đến với tư cách là nhà tâm lý học, nhưng thực tế ông là một nhà nhận thức luận – nghiên cứu về bản chất và khởi nguồn của sự nghiệp. Trong khi những người khác băn khoăn rằng trẻ biết điều gì (what) và khi nào (when) thì Piaget hỏi làm thế nào (how) trẻ đạt được những gì chúng biết. Những nghiên cứu của ông tập trung nhiều vào qúa trình tư duy.

Những người cùng thời với Piaget cho rằng quá trình học hoặc là mang tính nội tại (Đến từ đứa trẻ) hoặc mang tính ngoại tại (tạo nên bởi môi trường hoặc được ngừoi lớn dạy) thì Piaget nghĩ rằng không riêng một mệnh đề nào có thể giải thích được quá trình học. Thay vì thế ông cho rằng tương tác của trẻ với môi trường chính là những yếu tố tạo nên quá trình học. Ông cho rằng trẻ kiến tạo sự hiểu biết của mình bằng cách gán định nghĩa cho những con người, nơi chống và những sự vật trong thế giới của chúng.

Trẻ học tốt nhất khi tự mình làm việc một cách thực sự và kiến tạo nên sự hiểu biết của riêng mình về những gì đang diễn ra thay vì nhận lấy những cách diễn giải mà người lớn đưa ra.

Piaget tin rằng trẻ cần mọi cơ hội có thể để được tự mình làm mọi việc. Ví dụ trẻ có thể rất quan tâm tới việc vật đã phát triển như thế nào. Nếu giáo viên đọc cho trẻ nghe một cuốn sách minh hoạ về chủ đề đó, trẻ có thể tăng được kiến thức nền tảng. Nhưng nếu trẻ có cơ hội được trông một vườn cây thực sự tại trường thì quá trình đào xới tưới tắm, quan sát và trải nghiệm sự lớn lên của cây cối sẽ giúp trẻ kiến tạo nên sự hiểu biết về quá trình phát triển của sự vataj, những thứ mà các em không thể có được nếu cỉ dọc và nhìn vào những bức tranh minh hoạ.

Piaget cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của trò chơi như là con đường chính để học tập. Khi trẻ tham dự vào một trò chơi biểu trừng (làm bánh từ cát, sử dụng vòi nước tưới cây để làm lính chữa cháy), chúng sẽ gán ý nghĩa cho những đồ vật và cho các hoạt động xung quanh chúng. Khi chúng mô phỏng theo những gì diễn ra xung quanh, chúng bắt đầu hiểu mọi thứ vận hành như thế nào và để làm gì. Mới bắt đầu đây là quá trình thử và sai. Tuy nhiên theo thời gian và sự lặp lại, trẻ sẽ sử dụng thông tin mới để tăng cường sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh.

Theo Piaget, sự phát triển nhận thức của trẻ trải qua những 4 giai đoạn sau

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

Lý thuyết về giai đoạn nhận thức của Piaget

1. Giai đoạn cảm giác vận động (Sensorimotor) của Piaget: từ khi sinh cho đến 2 tuổi

Piaget cho rằng ban đầu phản ứng của trẻ đối với thế giới chỉ thuần tuý mang tính phản xạ (không có tư duy), trí tuệ bắt đầu khi các phản ứng trở nên có mục đích hơn. Trong suốt thời gian này, trẻ dựa vào các giác quan và hoạt động thể chất để học hỏi về thế giới như nhìn, nghe, xúc giác, vị giác, cầm nắm. Đến cuối giai đoạn này thì sự ổn định cảu đối tượng (Object pernamnence) sẽ dần xuất hiện. Sự ổn định có nghĩa là trẻ dần nhận thực được rằng ngay cả khi trẻ không thể nhìn thấy cái gì đó thì nó vẫn tồn tại. Đây là cột mốc quan trọng, trước khi đạt được cột mốc này trẻ chỉ quan tâm tới những gì trong tầm quan sát của chúng.

Ví dụ quan sát ta sẽ thấy tầm 8 hoặc 9 tháng tuổi, trẻ có thể làm rơi đồ vật từ trên xuống nhưng không

Jean Piaget

Jean Piaget

hề bối rồi, với trẻ thì sự vật rời khỏi tầm nhìn của chúng thì chúng không quan tâm đến nữa. Từ góc nhìn của trẻ thì đồ vật không còn tồn tại. Rồi bỗng nhiên, đến tháng thứ 8 – 10 khi vật rơi xuống trẻ sẽ cúi nhìn về phía đó và nhặng xị lên đòi lại nó. Thường các bậc cha mẹ nhặt vật lên sẽ cảm tháy ngạc nhiên và lạ lùng khi bé mỉm cười rồi lại ném đồ vật xuống chỗ cũ. Đây không phải là sự khởi đầu nỗ lực làm người lớn phát điên mà là khoảnh khắc bùng nổ đầu tiên của niềm vui sướng khi học hỏi. Đây là sự khởi đầu của ổn định đối tượng. Đây cũng là giai đoạn trẻ thể hiện sự lo âu khi bị tách rời.

Để hỗ trợ sự phát triển của trẻ dứoi 2 tuổi, lý thuyết Piaget khuyên rằng chúng ta vẫn giữ cho trẻ an toàn nhưng vẫn có được sự tò mò hứng thú và nên đáp ứng lại ngay để trấn an khi trẻ có lo âu bị xa cách. Trẻ cần có các đồ vật để kéo và đẩy, thao tác. Chúng cần bò trường, leo trèo và được ngừoi lớn đỡ cho đứng lên mà không gặp nguy hiểm. Một môi trường dành cho trẻ cần đa dạng, dành nhiều cơ hội leo trèo sẽ đem lại cho trẻ không gian cần để thử nghiệm mối liên hệ về không gian và học qua thân thể mình. Đồ chơi cần đa dạng, gây hiệu ứng (như tạo tiếng động). Trẻ cũng cần trải nghiệm với đồ chơi mềm mại như đất nặn không có độc, tinh bột ngô và nước, cát… Gương và những đồ trang sức cần để ở nơi trẻ dễ lấy có thể khiến trẻ hứng thú hơn.

Sự phát triển nhận thức cũng được kích thích khi người lớn thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, thủ thỉ nói cho các em biết điều gì đang diễn ra và khen ngợi khi các em hoàn thành nhiệm vụ nào đó.

Khi trẻ nhỏ bắt đầu có kinh nghiệm về sự ổn định của đối tượng, xuất hiện cảm giác lo âu bị phân tách thì điều quan trọng là cần hạn chế sự thay đổi trong môi trường của trẻ ở mức tối đa.

2. Giai đoạn tiền thao tác (Preoperational stage)

Theo Piaget, sau giai đoạn cảm giác vận động thì sự nhận thức của trẻ bước vào giai đoạn tiền thao tác, bắt đầu từ năm thứ 2 cho đến 7 hoặc 8 tuổi. Giai đoạn này thì tư duy của trẻ khác biệt so với tư duy của cha mẹ nhất. Piaget cho rằng giai đoạn này trẻ có tính duy kỷ (nghĩ về mọi thứ như thế những thứ ấy đều gắn liền với chúng), trẻ chỉ tập trung vào một đặc tính sự vật hoặc chú ý vào một người trong một thời điểm nhất định. Ví dụ quen thuộc như khi trẻ muốn mua đồ chơi nhồi bông làm quà cho ông bà cha mẹ vì trẻ nghĩ trẻ thích nó nên ông bà cha mẹ cũng thích.

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Bài tập về bảo toàn của Piaget

Trong giai đoạn này, trẻ hình thành khái niệm từ những kinh nghiệm trực tiếp của mình trong cuộc sống. Đây chính là lý do tại sao khi nói với trẻ điều gì đó sẽ ít hiệu quả hơn là làm thể nào giúp trẻ nghĩ theo cách riêng của chúng qua một vấn đề. Vì trẻ ở giai đoạn này có xu hướng tin vào những gì chúng thấy nên chúng chưa có sự hiểu biết chắc chắn về những phẩm chất của những đối tượng trong thế giới. Ví dụ chúng bị lẫn lộn giữa “nặng” và “lớn”, chưa phân biệt chiều cao với tuổi như nghĩ ai cao sẽ nhiều tuổi. Piaget đã thực hiện một thí nghiệm kinh điển với bài tập Bảo toàn để minh hoạ kiểu tư duy này.Ông để hai dãy đồng xu trên mặt bàn, cả hai dãy có cùng số lươngj xu những khoảng cách giữa các đồng xu khác nhau, trẻ ở độ tuổi này có xu hướng sẽ cho rằng dãy có đồng xu cách xa nhau hơn là nhiều hơn. Vì trẻ ở giai đoạn này phụ thuộc vào kinh nghiệm của riêng mình nên trẻ thường có xu hướng khái quát hoá sai lầm, đặt niềm tin vào một kinh nghiệm đơn thuần nào đó.

Để hỗ trợ giai đoạn này của trẻ, chúng ta có thể:

  • Sắp xếp những gói thời gian dài để trẻ vui chơi tự do không bị ngắt quãng
  • Tạo cơ hội cho trẻ có nhiều trải nghiệm về thế giới thực tại trong cả năm
  • Xây dựng các hoạt động mang tính mở và đặt những câu hỏi mở
3-4. Giai đoạn thao tác cụ thể (Concrete operation) và thao tác hình thức (formal operation)

Hai giai đoạn này nói về lứa tuổi học đường và vị thành niên. Khi trẻ bước sang giai đoạn thao tác cụ thể thì trẻ bộc lộ nhiều thay đổi trong cách tư duy như tư duy đảo ngược, cho phép trẻ đảo ngược hướng tư duy của mình. Ví dụ, trẻ có thể lần ngược lại các bước trên sân trường để tìm hộp cơm để quên. Trẻ không còn đếm ngón tay nữa vì trẻ bắt đầu có khả năng tư duy trừu tượng. Khi lên 4 tuổi thì mọi con chó đều được gọi là chó, nhưng khi lên 8-9 tuổi thì trẻ biết phân biệt giữa các loại chó.

Giai đoạn cuối cùng là Piaget chỉ ra là giai đoạn hình thức, giai đoạn này bắt đầu từ lúc 11-12 tuổi được đánh dấu bằng năng lực tư duy logic bằng những thuật ngữ mang tính giả đinh. Trẻ sẽ trăn trở những câu hỏi như “Liệu có sai không khi ăn trộm thức ăn cho những con chó đang đói của bạn? , hoặc liệu một cái cây đổ mà không ai ở đó nghe nó đổ, liệu nó có tạo ra tiếng động không..?”

psychology-for-social-workers-human-service-professionals-nurses-37-638

STEM activities - hoạt động STEM

STEM là cách gọi xuất phát từ chính phủ Mỹ nhằm mô tả các lĩnh vực ngành giúp người di cư muốn xin visa gồm có Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ sư (Engineering) và Toán học (Math). Ngày này, các học giả thường nhắc đến STEM trong các chương trình dạy học về những lĩnh vực này. Khi chúng ta tách những chữ cái viết tắt (S-T-E-M) thành những mục nhỏ chúng ta có thể thấy trẻ nhỏ thực hành chúng hằng ngày.

I. STEM – Science: Các hoạt động về khoa học cho trẻ

Các buổi thí nghiệm sẽ giúp trẻ phát triển được những kỹ năng quan trọng trong khoa học như quan sát điều gì đang diễn ra, sử dụng từ ngữ để mô tả những trẻ quan sát được và lặp lại các hoạt động để so sánh các kết quả nhận được. Đặt câu hỏi và truy tìm câu trả lời là các kỹ năng cần được sử dụng hằng ngày.

Một số hoạt động hữu ích như;

#1. Không khí có thể di chuyển đồ vật:

  • Hãy bảo trẻ thổi không khí trên bàn tay và vẫy vẫy tay trong không khí. Hãy hỏi trẻ cảm thấy như thế nào và trẻ có nắm được không khí không?
  • Hãy xếp đồ chơi trôi trong chậu nước và sử dụng ống để thổi những đồ chơi đó. Hãy lặp lại những hoạt động này và để trẻ mô tả lại đồ vật như thế nào khi trẻ thổi.
  • Hãy khuyến khích trẻ dùng các từ ngữ mô tả như nhanh hơn/chậm hơn

#2. Bong bóng chỉ có một hình dạng

  • STEM - thổi bong bóng

    STEM – thổi bong bóng

    Hãy tạo bong bóng trong một chiếc xô hoặc chậu bằng xà phòng. Sử dụng nhiều vật có hình dạng khác nhau như khuôn cắt bánh quy, ống hút, dạy trẻ cách nhấn đồ vật ở trong nước và thổi bong bóng. Hãy thử nghiệm việc thổi nhanh và thổi chậm rồi hỏi trẻ là cách nào thì tốt hơn?

  • Hãy hỏi trẻ bong bóng có hình dạng gì? Cho dù trẻ dùng vật gì để thổi thì bong bóng sẽ luôn luôn có hình tròn vì sức căng bề mặt ngoài

#3. Sự thay đổi hình dạng của bóng (shadow)

  • Bên ngoài trời nắng hoặc trong chỗ tối có ánh sáng flash, hãy tạo ra bóng và hỏi trẻ : Chúng ta cần cái gì để có thể tạo ra bóng?. Câu trả lời là ánh sáng, đồ vật và nơi để bóng đổ.
  • Hãy khám phá các hình dạng của bóng khi thay đổi nguồn sáng gần hoặc xa vật. Hoặc hãy để nguồn sáng một chỗ và di chuyển đồ vật gần hoặc xa đến bức tường hoặc sàn. Hãy vẽ outline bóng của cánh tay, bàn tay hoặc cả người để trẻ quan sát.
  • Hãy hỏi trẻ nhưng câu hỏi “Cái gì” (what) như Bóng sẽ giống cái gì khi tay của con đặt gần sàn? Nó sẽ có viền rõ nét hay viền mờ nét?…

II. STEM – TECNOLOGY: Các hoạt động về công nghệ

Khi nghe đến công nghệ có thể bạn sẽ nghĩ ngay đến máy tính và điện thoại thông minh, tuy nhiên các hoạt động cho trẻ thì công nghệ là những công cụ để giúp trẻ phát triển các kỹ năng vận động thô và vận động tinh. Công cụ sẽ giúp trẻ phát triển sự phối hợp giữa tay và mắt, rèn luyện đôi tay và cơ ở các ngón tay giúp trẻ có thể học viết, đánh máy và vẽ.

#1. Học các kỹ năng sử dụng kéo:

  • Hãy chỉ cho trẻ cách dùng kéo như ngón cái sẽ xỏ vào lỗ trên của kéo, ngón trỏ ở lỗ dưới, ngón giữa giữ ở phía lỗ dưới của kéo để làm điểm tựa, ngón áp út và ngón út sẽ không dùng đến

#2. Trò chơi đi theo đường thẳng

  • Vẽ một đường rộng và đơn giản từ trên xuống dưới tờ giấy, hãy hướng dẫn cho trẻ cắt theo đường vẽ trên

#3. Các mẫu cắt rời cơ bản

  • Vẽ ba hình cơ bản trên giấy (hình vuông, tròn và chữ nhật) và cho trẻ cắt theo các hình đó. Hãy lưu lại các hình ấy cho các dự án tiếp theo của chúng.

#4. Tập đổ hoặc rót nước (Practice pouring)

STEM - Tập rót nước

STEM – Tập rót nước

  • Hãy dạy cho trẻ cách đổ nước vào bình hoặc các cốc nhựa. Hãy nói với trẻ rằng bình nước đang rỗng và trẻ hãy đổ nước cho đến khi đầy bình, sau đó rót nước vào các cốc. Tiếp tục trút nước từ cốc vào bình và lại rót vào cốc. Hãy thử nghiệm với các cốc có kích cỡ khác nhau

#5. Tập xúc (Scooping)

  • Sử dụng cái xẻng hoặc cái xúc khi đi biển, hãy tập cho trẻ xúc các đồ vật khô như cát hoặc đất từ hộp này qua hộp khác. Cố gắng không để cát rơi giữa các hộp đựng.

#6. Quan sát chi tiết

  • Hãy cho trẻ dùng kính lúp để quan sát một vật và hỏi trẻ mô tả lại những gì trẻ đã nhìn thấy và vật đó có khác gì khi trẻ không nhìn bằng kính lúp.

III. STEM – ENGINEERING: Các hoạt động về kỹ thuật

Đó là các trò chơi với các khối và các vật liệu để xây dựng nhằm phát triển kỹ năng toán và khoa học của trẻ, giúp trẻ học về lực hấp dẫn, cân bằng, hình dạng và kỹ năng giải quyết vấn đề.

#1. Mix it up

Hãy sử dụng các vật liệu hỗn hợp để xây dựng  như xây dựng các công trình nhà cửa, cầu bằng legos hoặc tường gạch

#2. Recyle it:

Hãy sử dụng các hộp bìa các ton, chai nhưa, cốc hoặc các vật đựng để làm nguyên liệu xây dựng

#3. Hãy thử thách:

Hãy tạo ra các thử thách/dự án cho trẻ sử dụng các nguyên liệu sẵn có để tập xây như:

  • Trẻ có thể xây được nhà cao đến đâu?
  • HÃy xây một đường hầm mà trẻ có thể chui qua
  • Hãy lập một đội để xây dựng một dự án nào đó
  • Hãy lắp ghép xây dựng một đồ gì đó trong 5 phút

IV. STEM – MATH: Các hoạt động về toán học

Các hoạt động như sắp xếp và đếm là một trong những cách phát triển kỹ năng logic và toán học cơ bản. Thông qua các trò chơi với khối, màu sắc, hình dạng trẻ có thể học các khái niệm về phân loại và thứ tự.

#1. Sắp xếp các đồ vật giống nhau:

Hãy tập hợp các đồ chơi giống nhau và bảo trẻ chơi trò sắp xếp đồ vật giống nhau: xe hơi với xe hơi, khối gỗ với khối gỗ. Hãy lặp lại các trò chơi này với những tiêu chí khác nhau như ghép màu sắc, kích thước, hình dạng.

#2. Đo cơ thể

Trẻ có thể sử dụng cơ thể của mình như một đơn vị đó. Ví dụ: cần bao nhiêu bé A để có thể hết chiều ngang căn phòng này? cái tháp này bao nhiêu gang tay của bé A? Chiều dài cánh tay phải có bằng cánh tay trái không?….

Da vinci measurement - STEM

Da vinci measurement – STEM

#4. Trò chơi kích thước Da Vinci:

Chiều cao từ đầu dến ngón chân của Vitruvian của Da vinci có kích thước bằng chiều rông của hai cánh tay duỗi thẳng. Hãy đo chiều cao của trẻ trên mặt sàn bằng băng dính, sau đó xoay người trẻ để so sánh chiều cao và khoảng cách của hai cánh tay duỗi thẳng.

V. Các hoạt động về luyện tập 5 giác quan

Khám phá các giác quan giúp cho trẻ hình thành được những kỹ năng khoa học nhưn quan sát điều gì đang diễn ra và mô tả lại những điều trẻ cảm nhận. Khi trẻ phát huy được tất cả các giác quan, bộ não sẽ có những kết nối mạnh hơn và thông tin được lưu giữ lâu hơn. 5 giác quan là cách cơ bản để trẻ khám phá, tìm tòi và hiểu được một thông tin mới.

#1. Về thị giác

Loài loại động vật có vú thì thị giác là một trong những giác quan mạnh nhất, cho phép chúng ta nhìn thấy màu sắc, kết cấu, hình dáng và chuyển động.

Các hoạt động bổ ích cho thị giác như;

  • Nhìn tập trung: sử dụng các nguyên liệu như ruột ống giấy toilet hoặc giấy cuộn tròn để trẻ có thể nhìn qua, sau đó nhờ trẻ mô tả lại những gì trẻ thấy. Bạn có thể thực hành khi đang đi tản bộ, cho trẻ thời gian quan sát lặp lại và mô tả lại.
  • Thế giới hoa hồng: sử dụng “ống nhòm” như trên nhưng dán lớp giấy bóng kính xenloophen. Hỏi trẻ có gì khác biệt.
  • Sắp xếp màu sắc: Hãy cho bé đeo kính 3D và bảo trẻ xếp các hạt kẹo M&M hoặc hạt trân châu. Sau

    STEM - I spy with little eyes

    STEM – I spy with little eyes

    đó bỏ kính ra và quan sát kết quả.

  • Nhìn phóng đại: sử dụng kính lúp để quan sát sự vật gần hơn, dùng để khám phá khi cho trẻ đi chơi bên ngoài như rễ cây, cỏ hoặc trong các cành cây đổ…(Chơi trò I spy with my little eyes)
  • Trò nhắm đúng đích: cho trẻ ngồi vòng tròn, sau đó bảo trẻ bịt một mắt và chuyền bóng cho bạn khác. Quan sát và hỏi trẻ chuyền đúng chưa?

#2. Thính giác

Thính giác giúp chúng ta thu nhận được cảm giác về môi trường xung quan, hỗ trợ cho hoạt động giao tiếp. Các hoạt động bổ ích có thể thử như:

  • Deer ears: con nai và nhưng con vật khác có thể chuyển động đôi tai để phán đoán âm thanh nguy hiểm tốt hơn cho mình. Hãy cho trẻ chơi trò ve vẩy tai bằng cách đặt tay sau tai và bịt mở tai để mô tả lại sự khác biệt về âm thanh khi trẻ thực hiện.
  • Twist ‘n’ shout: Hãy so sánh âm thanh ồn ào và yên tĩnh bằng cách cho bảo trẻ đứng dậy và hát ở giọng bình thường, sau đó xoay vòng xuống ghê và hát thì thầm, sau đó lại xoay lại và dứng lên hát với giọng to hơn.
  • Clap clap: cho các trẻ đứng vòng tròn và vỗ tay lần lượt, lúc to lúc nhỏ
  • Match the sound: sử dụng các hộp jarr hoặc ống có vỏ kín không thể nhìn xuyên, thử bỏ các đồ vật khác nhau vào các hộp cho trẻ lắc. Bảo trẻ thử đoán xem âm thanh do đồ vật nào phát ra
  • Bé nghe thấy gì? Mỗi lần đi chơi hãy hỏi trẻ đã nghe thấy gì (tiếng chim hót, kêu chíp chip, lá rơi, còi xe kêu, tiếng chó sủa, tiếng còi tàu…). Có thể bảo trẻ bắt chước lại tiếng kêu mà bé nghe thấy.

#3. Xúc giác

Xúc giác giúp chúng ta nhận biệt được các chi tiết nhỏ, dùng để thao tác bằng tay để sáng tạo. Các hoạt động bổ ích như:

  • Đồ vật bí ẩn (mystery objects): hãy cho nhiều đồ vật khác nhau vào gối hoặc các túi, bảo trẻ hãy sờ và cảm nhận các vật và phán đoán đồ vật ấy là gì mà không cần nhìn đồ vật đó.
  • Thò tay vào túi: hãy cho trẻ thò vào túi đựng các loại vật liệu như cát, đậu, hạt muỗng, lá , đất hoặc sữa chua…hãy hỏi trẻ các câu hỏi để kích thích trí tưởng tượng của trẻ.
  • Eye sense: hãy sử dụng một đoạn dây, lông  vũ hoặc giấy hoặc các đồ vật tương tự, cho trẻ nhắm mắt nắm vật từ tay này sang tay kia và đoán.

#4-5: Vị giác và khứu giác

STEM - trò chơi khứu giác

STEM – trò chơi khứu giác

Vị giác và khứu giác thường gắn liền với nhau bởi chúng khó có thể khám phá cái này mà ko có cái kia. Ghi nhớ mùi vị là một trong những hoạt động cảm giác gợi liên tưởng nhất. Các hoạt động có thể thử cho trẻ như:

  • Thử khứu giác: hãy vừa ngửi một miếng cam và nếm thử.
  • Tìm lọ có mùi giống nhau: sử dụng các hộp jar, miếng bông cotton và hương vị thực phẩm. Hãy nhỏ một vài mùi vị vào các miếng bông cotton cho vào lọ đựng để lưu lại mùi ở trong lọ. Hãy đặt các bức tranh mô tả mùi vị đó như bạc hà, hương chanh, quế, sô-cô-la, hạnh nhân.. Hãy cho trẻ ngửi và tìm xếp lại với nhau.
  • Khơi gợi cảm xúc (create a mood): mỗi một mùi vị khác nhau có thể tạo ra cảm xúc khác nhau. Hãy thử đặt các gia vị và thực ăn khác nhau ở trung tâm nhà bạn hằng ngày. Hãy hỏi trẻ mỗi ngày là bé có cảm giác như thế nào khi ngửi thấy mùi vị đó: ví dụ như ấm áp dễ chịu như mùi quế, thanh mát như hoa lavender, cảm giác nắng đầu mùa như chanh vàng. Trẻ thích mùi nào nhất?
  • Hương vị như thế nào? Trong giờ ăn vặt, hãy xếp các đồ ăn theo cặp để cho trẻ thử. Ví dụ một miếng táo – cam, hỏi trẻ loại nào ngọt hơn, chua hơn? Miếng phô mai – bánh crack, hãy hỏi trẻ miếng nào mềm hơn? cứng hơn? giòn hơn?…
  • Trò chơi Willy Wonka: Willy wonka đã tạo ra một loại kẹo cao su có vị các món ăn, hãy cho trẻ tưởng tượng đang ăn loại kẹo mà có mùi vị trẻ yêu thích.
Giáo dục STEM cho trẻ

STEM là gì?

STEM là cách gọi xuất phát từ chính phủ Mỹ nhằm mô tả các lĩnh vực ngành giúp người di cư muốn xin visa gồm có Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ sư (Engineering) và Toán học (Math). Ngày này, các học giả thường nhắc đến STEM trong các chương trình dạy học về những lĩnh vực này. Khi chúng ta tách những chữ cái viết tắt (S-T-E-M) thành những mục nhỏ chúng ta có thể thấy trẻ nhỏ thực hành chúng hằng ngày.

Các hoạt động Khoa học (Science) như khám phá nước và cát, so sánh các nguyên liệu tự nhiên như đá và đất, lăn bóng khắp nhà hay nìn kính hiển vi để xem một chú bọ có bao nhiêu cái chân… Các hoạt động Công nghệ (Technology) như máy tính, hoặc các máy móc đơn giản như bánh xe, ròng rọc, phụ tùng. Xây dựng (Engineering) như xếp các hình khối theo các chủ đề của trẻ. Hoạt động liên quan đến Toán học  (Math) như tập đếm, nhận biết hình khối, đo lường…Như vậy, để dạy cho trẻ thông qua các trò chơi STEM thực sự rất bổ ích, nhằm thoả mãn trí tò mò của trẻ. Chúng ta hãy quan sát trẻ khi chúng chơi đùa với nước, với bóng và cát và hỏi những câu hỏi thiết thực. Bạn có thể hỏi các câu hỏi mở như:

Nói cho mẹ biết con đang chơi cái gì vậy?

Con có để ý làm thế nào mà nó chuyển động không?

Con thấy các bạn khác đang chơi như thế nào?…

Hãy ghi chép các câu trả lời và bạn sẽ tự tìm cho mình những trò để giúp trẻ vừa học vừa chơi.

Kiến thức cơ bản về bộ não

Một nghiên cứu gây sức ảnh hưởng lớn trong ngành thần kinh học và các khoa học phát triển khác cho chúng ta thấy rằng cấu trúc cơ bản của bộ não được hình thành thông qua một quá trình liên tục bắt đầu từ khi trẻ mới sinh ra cho đến khi trưởng thành. Giống như xây dựng một căn nhà, quá trình xây dựng phải bắt đầu từ một nền móng vững chắc, dựng hình các phòng, thiết lập hệ thống điện theo cách chúng ta dự đoán cho căn nhà của mình. Những trải nghiệm đầu đời nói cách khác chính là cách định hình cho bộ não sẽ được xây dựng như thế nào. Nếu như một nền tảng yếu sẽ cần phải có sự hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục yếu kém hoặc cách can thiệp về sau sẽ ít hiệu quả và gây tốn kém hơn rất nhiều nếu so với việc cũng cấp cho trẻ một quá trình xây dựng não bộ mạnh khoẻ ngay từ những năm tháng đầu đời.

Giáo dục STEM cho trẻ

Giáo dục STEM cho trẻ

Nếu như trẻ được ở trong môi trường được thiết kế có chủ ý nhằm cung cấp cho não bộ những trải nghiệm đầu đời. Bố mẹ hoặc người trông trẻ có thể hướng dẫn hoặc định hướng cho trẻ chơi và khám phá còn môi trường được chuẩn bị tốt sẽ cung cấp cho trẻ chuỗi trải nghiệm đầu đời. Khi môi trường đó được liên kết một cách có chủ đích với những hoạt động học tập tốt cho não bộ thì đứa trẻ có thể trở nên giỏi giang sau này.

Chiến dịch Họat động cho não bộ đã đưa ra một chương trình về STEM hữu ích như sau:

Khoa học (Science) là rèn cách suy nghĩ (way of thinking). Khoa học chính là sự quan sát, thử nghiệm, học cách dự đoán, chia sẻ khám phá, không ngừng đặt câu hỏi và luôn tự hỏi mọi vật được hoạt đông như thế nào

Công nghệ (Technology) chính là cách làm (way of doing). Công nghệ chính là sử dụng các công cụ để phát mình, phát hiện vấn đề và giải quyết nó.

Xây dựng (Engineering) cũng là cách làm. Nó giải quyết các vấn đề thông qua sử dụng các nguyên liệu, thiết kế sáng tạo và xây dựng nên những vật hữu ích

Toán học (math) là cách đo lường (way of measuring), là phát hiện là hình dạng (chữ nhật, hình vuông, tròn…), khối lượng (nhiều, ít), kích cỡ (to, nhỏ), dãy số (1,2,3,4…)

Hãy hỏi câu hỏi Cái gì?

Chúng ta có thể để ý thấy nhiều trẻ trước tuổi đi học rất hay hỏi khi chúng đang khám phá sự vật. Những câu hỏi như “Đám mây kia từ đâu đến?”, “Tại sao đá lại chảy nước”, “tại sao quả bóng lăn lại góc kia?”. Dường như không một bố mẹ, giáo viên nào có thể trả lời được hết tất cả các câu hỏi của trẻ. Tuy nhiên có một tin vui cho bạn là không cần phải biết tất cả các câu trả lời để tạo ra những kinh nghiệm trí nhớ cho STEM. Trên thực tế, chìa quá để giáo dục STEM hiệu quả chính là hãy đặt câu hỏi đúng cho trẻ.

Một trong những chiến lược cho những câu hỏi tốt là hãy tập trung vào câu hỏi cái gì (What) thay vì tại sao (Why). Khi bạn hỏi Câu hỏi tại sao, dường như đã ngụ ý phải có một câu trả lời chuẩn xác và đứa trẻ cảm giác như đang bị hỏi đố, kiểm tra. Ví dụ như “Tại sao nam châm lại dính vào kim loại này?”, bạn có thể không biết câu trả lời như đứa trẻ vậy. Tuy nhiên nếu bạn dùng câu hỏi Cái gì thì bạn đang bắt đầu

Giáo dục STEM cho trẻ

Giáo dục STEM cho trẻ

cuộc trò chuyện và cùng đứa trẻ khám phá ra câu trả lời cùng trẻ. Câu hỏi cái gì chú trọng vào sự vật đang diễn ra, vật mà trẻ đang quan sát và cái mà trẻ đang làm. Những câu trả lời sẽ hiện ra ngay trước mặt bạn và đứa trẻ của mình. Đặt câu hỏi tập trung vào cái mà trẻ đang quan sát chú ý, không chỉ giữa bạn và trẻ có những trò chuyện vui vẻ, nâng cao kỹ năng quan sát mà còn có thể gây dựng lòng tự tin cho trẻ khi đặt câu hỏi và trẻ có thể trả lời như một chuyên gia.

Các câu hỏi Cái gì

  • Cái gì đã xảy ra vậy?  (What happened there?)
  • Con đã thử làm gì rồi? (What did you try?)
  • Con đã đổi những cái gì mà mình đang làm vậy?
  • Con chú ý cái gì của …?
  • Con nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu…?

Câu hỏi con nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu… là một câu hỏi rất hiệu quả đế giúp trẻ cố gắng nghiên cứu những thứ mà mình đang làm. Câu hỏi này yêu cậu bạn phải quan sát những điều trẻ đang làm và tìm hiểu xem điều gì đang diễn ra, nó có hiệu quả không hơn là bạn giải quyết vấn đề giúp trẻ. Bạn hãy hỏi những câu hỏi để gợi ý giúp trẻ tìm ra câu trả lời. Chẳng hạn như đám trẻ đang xây công trình tàu lượn bằng các khối gỗ và quả bóng bị rơi ngay tại điểm đường ray cua, bạn hãy hỏi trẻ rằng “Con có chú ý điều gì đang xảy ra ngay tại nơi mà quả bóng rơi hay không?” Bằng cách đặt câu hỏi để hướng sự chú ý của trẻ vào điểm xảy ra vấn đề có thể giúp trẻ tập trung vào chi tiết và tìm ra câu trả lời hơn là đưa ra cho trẻ câu trả lời ngay lập tức.

Một số hướng dẫn cơ bản giáo dục STEM cho trẻ trước tuổi đi học

Khoa học

Giáo dục STEM cho trẻ

Giáo dục STEM cho trẻ

Trẻ em luôn có bản tính tò mò bẩm sinh, chúng luôn tự hỏi đồ vật này gọi là gì, hoạt động như thế nào và tại sao điều này lại xảy ra. Nền móng của học Khoa học chính là đặt câu hỏi và khám phá – đây chính là công cụ của việc học tập tích cực. Hãy luôn thúc đẩy trí tò mò của trẻ về thiên nhiên xung quanh chúng thì mới khiến cho trẻ có niềm đam mê dài lâu. Giáo dục sớm có thể tìm cơ hội để giúp trẻ tiếp cận các khái niệm khoa học trong tất cả các lĩnh vực. Dể làm được điều đó thì cần phải có sự quan sát (observe). Nếu đang còn nhỏ thì các hoạt động cần phải đơn giản. Trẻ cần được trang bị các cuốn sách có độ chính xác cao về động vât, môi trường cũng như các cuốn tiểu thuyết khoa học. Trong mọi lúc, hãy giúp trẻ gọi tên chính xác ngôn ngữ khoa học.

Kỹ năng quan sát và đặt câu hỏi, khám phá là nền tảng của mọi khoa học. Ở độ tuổi trước khi đi học thì cần có một môi trường để trẻ trải nghiệm, khám phá dần. Chương trình phân thành 3 loại khoa học:

  1. Khoa học về trái đất và không gian (Earth and Space Science): mô tả những gì thuộc về trái đất, đại dương, khí quyến và vũ trụ ( nó gọi là gì, hoạt động như thế nào, hình dạng làm sao, và hoạt động tương tác với nhau như thế nào..). Khoa học này gồm Địa lý và Thiên văn học
  2. Khoa học vật lý: nghiên cứu các lực tự nhiên và thành phần cơ bản của sự vật tự nhiên
  3. Khoa học đời sống: gồm nghiên cứu các sinh vật sống (là cái gì, tồn tại ra làm sao, vòng đời và sự thay đổi của nó…) Trẻ cần có những trải nghiệm chính xác để quan sát, phân loại, so sánh và đối chiếu các sự vật sống với nhau. Ba lĩnh vực quan trọng là Sinh học, sinh lý học và sinh thái học.

Ví dụ về hoạt động Khoa học

#1. Khám phá ánh sáng mặt trời và bóng râm, mô tả ảnh hưởng của mặt trời và ánh sáng: hãy quan sát bóng cái cây và những đồ vật khác vào buổi sáng (vẽ lại hình ảnh đó bằng phấn) và quay trở lại nhìn vào buổi chiều để trẻ thấy sự khác biệt.

#2. Trải nghiệm với nhiều sự vật khác nhau để tìm hiểu làm thế nào để đồ vật đứng và giữ thăng bằng: hãy đưa cho trẻ nhiều vật liệu để xây dựng gồm các hộp to, nhỏ mà an toàn và bảo trẻ hãy xây dựng một cây cầu để chú thỏ có thể đi từ ghế lên bàn?…

Công nghệ/Xây dựng

Các hoạt động này bao gồm việc tìm hiểu một vật được cấu tạo và xây dựng như thế nào, liệu có thể làm khác đi được không. Nếu như khoa học nhằm hiểu được thế giới tự nhiên thì mục tiêu của xây dựng chính là học cách giải quyết vấn đề thông qua sự phát triển của công nghệ.

Giáo dục STEM cho trẻ

Giáo dục STEM cho trẻ

Công nghệ phát triển thông qua việc xây dựng các hệ thống như nhà cửa có hệ thống nước, khí đốt, cầu đường, đường hầm, thiết kế xe để chay, máy bay, điện thoại, tivi máy tính… Rất nhiều đồ chơi hiệnnay cả trẻ thể hiện những lĩnh vực này.

Trẻ trước tuổi đi học có thể bắt đầu phát triển các khái niệm về xây dựng như thiết kế, xây dựng thử nghiệm thông qua các trò chơi như xây dựng lâu đài cát, thành phố bằng các khối gỗ. Chúng có thể nghiên cứu các công cụ giúp con người có thể xây dựng dễ dàng hơn…

Toán học

Toán học liên quan tới các suy nghĩ và khái niệm về số lượng, giải quyết vấn đề logi và mối quan hệ không gian. Toán học không nên bị gò bó trong cái thời gian học toán mà có thể gắn với bất kỳ hoạt động nào của trẻ khi chơi. Suy nghĩ toán học có thể được kết hợp khi cho trẻ chơi các hình khối, đóng kịch, chơi với nước và cát. Trẻ có thể tự mình kết nói giữa toán học và âm nhạc khi chúng thể nghiệm các giai điệu, nhịp điệu, hình ảnh nốt nhạc…

Trẻ có thể học thuộc dãy số, so sánh khối lượng, nhận biết và xếp hình dạng. Khái niệm về con số đối với trẻ rất quan trọng trẻ cần được xây dựng nền tảng này từ sớm.

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida
Điều 1: Nói chuyện với bé

Hãy kể thật nhiều chuyện cho bé ngay từ khi bé mới ra đời.

Hãy dạy cho bé tên gọi của những đồ vật thân thuộc xung quanh, từng thứ một

Nếu cha mẹ nói chuyện nhiều với con từ sớm, thì khi lớn lên khả năng ngôn ngữ của con sẽ phong phú đến mức ngạc nhiên.

Điều 2: Ẵm bé ra ngoài dạo chơi

Khi ẵm bé ra ngoài đi dạo, cha mẹ hãy kể thật nhiều câu chuyện thú vị về những đồ vật mà bé nhìn thấy. Khi ra ngoài, đừng chỉ đặt bé trong xe nôi và đẩy đi nên bế bé trong lòng rồi trò chuyện cùng bé. Bởi vì, khi vừa âu yếm, vừa thì thầm vào tai bé những câu chuyện thì hiệu quả sẽ tốt hơn và bé lớn lên sẽ nhanh nhẹn hơn.

Điều 3: Đọc truyện cổ tích cho bé nghe

Hãy đọc thật nhiều chuyện cổ tích cho bé nghe. Cha mẹ đừng nghĩ rằng những câu chuyện kiểu như cậu bé sinh ra từ quả đào, gỡ đi hay gắn thêm cái bowics một cách quá đơn giản, vãi tro tàn lên cây sẽ lại nở hoa… toàn là những điều dối tra, phi logic, phi thực tế. Chính những câu chuyện phi thực tế như vậy mới gips trẻ phát triển khả năng lý giải những hiện tượng trong thế giới trừu tượng, hư cấu, một thế giới không tưởng trong mơ. Cha mẹ hoàn toàn không nên nuôi dạy con chỉ bằng những câu chuyện logic, khô khan và đầy thực tế.

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Những bức tranh, những cuốn tiểu thuyết do con người viết và vẽ nên, không phải tất cả đều lấy chất liệu từ thực tế cuộc đời. Chúng còn là những sản phẩm về những thế giới hư cấu, tưởng tượng. Nếu không hiểu về thế giới hư cấu thì văn hóa không có tính sáng tạo. Những con người quá thực tế sẽ không hiểu được nghệ thuật.

Một điều hữu ích khác khi kể chuyện cổ tích cho bé nghe là nâng cao năng lực lý giải câu chuyện bằng tai. Bế sẽ hiểu rõ nội dung câu chuyện, tưởng tượng được bối cảnh. Nếu cha mẹ kể chuyện một cách diễn cảm, bé sẽ cười, sẽ hồi hộp, sẽ khóc thút thít khi nắm bắt được tình cảm nhân vật trong câu chuyện. Cứ như vậy, cha mẹ đã giúp bé bồi dưỡng khả năng quan tâm lắng nghe người khác, đến lúc đi học bé sẽ biết chăm chú lắng nghe thầy cô giáo giảng bài.

Điều 4: Hãy cho bé xem sách tranh

Từ lúc trẻ được 4-5 tháng tuổi, hãy mở sách ra trước mặt bé và kể cho bé nghe những câu chuyện đơn giản về các bức tranh được vẽ trong sách, chỉ cần kể một chút là đủ. Lúc đầu, có lẽ bé không chú tâm vào các trang sách. Khi đó, cha mẹ hãy cầm sách lên và đọc cho con nghe, Như vậy, dù lúc đầu bé không hứng thú, những chẳng mấy chốc não bộ của bế sẽ mở ra một đường dẫn thần kinh dành cho sách tranh.

Điều 5: Cho bé tiếp xúc với những bản nhạc, bức họa nổi tiếng

Mỗi ngày, hãy cho bé nghe những bản nhạc nổi tiếng một. hai lần. Ngoài ra, cha mẹ nên treo những bức họa hoặc tác phẩm điêu khắc nổi tiếng trong phòng những đừng chỉ treo để đó thôi mà điều quan trọng là phải kể cho trẻ nghe những câu chuyện về các tác phẩm đó. Cha mẹ thường xuyên thay tranh,ít nhất một lần một tháng.

Điều 6: Hãy dắt bé ra ngoài đi dạo mỗi ngày

Với các bé từ 1 đến 2 tuổi, mỗi ngày cha mẹ hãy dẫn bé ra ngoài đi dạo. Lúc này cha mẹ đừng chỉ dắt bé đi vu vơ, quanh quẩn, mà hãy vừa đi vừa liên tục trò chuyện cùng bé. Điều quan trọng là hãy kể cho bé nghe về những câu chuyện cuộc sống tự nhiên kỳ diệu đang phô bày trước mắt trẻ. Hãy tìm đề tài từ những hòn đá cuối, từng ngọn cỏ, cành hoa để trò chuyện với bé.

Điều 7: Không kể chuyện ma, chuyện kinh dị

Không kể chuyện ma, chuyện kinh dị cho bé nghe và không dọa bé sợ. Không được hù dọa kiểu như đứa nào hư sẽ bị

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

ma bắt đi hoặc bị ông kẹ bắt cóc. Những câu chuyện như thế này sẽ tạo ra tổn thương tinh thần rất lớn trong tâm hồn của bé. Sau này lên lớp 3, lớp 4 có thể bé vẫn còn sợ đi vệ sinh một mình.

Điều 8: KHông sử dụng các từ ngữ cấm đoán

Cha mẹ không sử dụng các từ ngữ cấm đoán, những từ ngữ có tính phủ định, tiêu cực khi nuôi dạy con như “KHông được dùng kéo nghe chưa, nguy hiểm, cấm xé giấy, nghe không hả, cấm không được bước ra ngoài…”

Khi bé muốn chơi kéo, tốt hơn cha mẹ nên để cho bé chơi và đứng ngoài giám sát. Khi bé muốn ra ngoài chơi, bố mẹ cũng nên cho bé đi. Tuy nhiên, cũng cần cho bé biết việc nào là nguy hiểm. Nếu chúng ta cứ nuôi bé trong một phạm vi an toàn thì bé sẽ trở thành một đứa trẻ không thể làm bất kỳ điều gì cùng mọi người mà chỉ đứng một bên và nhìn thôi.

Điều 9: Không đối xử tiêu cực

Cha mẹ không được trước mặt một bà mẹ khác, dùng những từ ngữ tiêu cực, có ý bác bỏ để nói bé như “thằng này nó chả có tí điềm đạm naofcar!”, không biết nghe lời mẹ gì hết, nó không có hứng thú làm việc gì hết…” Những từ ngữ này tuyệt đối không được sử dụng, các bé sẽ trở thành những đứa bé tiêu cực y như vậy.

Điều 10: Không cho bé xem tivi

Các bậc phụ huynh không nên cho bé xem tivi bởi có ý kiến cho rằng xem tivi sẽ làm phá hủy cấu trúc đại não của trẻ. Hơn nữa, các nhà khoa học còn cảnh báo, tivi có thể phát ra các tia âm cực sinh ra từ dòng điện cao áp. Các tia âm cực này gây ảnh hưởng đến thùy trán của não (bộ phận đảm nhiệm khả năng tư duy).

Điều 12: Sớm dạy bé đọc chữ cái

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nếu có thể, cha mẹ hãy dạy bé học bảng chữ cái càng sớm, càng tốt. Hãy tập cho bé thói quen đọc nhậm từ sớm để nâng cao khả năng đọc sách của bé. Nếu bé đã quen đọc nhẩm từ lúc 4-5 tuổi thì về sau tốc độ đọc sách của bé cũng nhanh hơn nhiều. Cần nhớ rằng, trong quá trình đọc từ lúc trẻ nhớ được chữ cho đến khi đọc được chữ thì việc cổ vũ khích lệ trẻ là hết sức cần thiết. Ngoài ra điều quan trọng mà cha mẹ cần làm là trò chuyện với con thật nhiều, đọc truyện trnah cho con nghe. Khi trẻ từ 2-3 tuổi, hãy bắt đầu cho trẻ tập nhắc lại lời mẹ nói.

Điều 13: Dạy đi dạy lại nhiều lần

Khi dạy cho trẻ vấn đề gì đó, hãy dạy đi dạy lại nhiều lần cho trẻ. Cha mẹ cần biết rằng để trẻ có thể làm quen với một việc nào đó, cần thời gian ít nhất 3 tháng. Muốn chuyển sang từ trang thái chưa có ý thức sang trạng thái có ý thức thì các tế bào thần kinh của não bộ phải liên kết chặt lại vwois nhau tạo thành một mạng lưới thống nhất thì hoạt động trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Mạng lưới này được hình thành khi các tế bào myelin bao bọc những tế bào thần kinh xoay quanh sợi trục, để tránh bị rối loạn, và cần phải lặp đi lặp lại tác động đó đến 100 lần.

Điều 14: Rèn luyện trí nhớ

Hãy rèn luyện trí nhớ cho trẻ từ khi còn nhỏ. Nói vệ điều này, các bậc cha mẹ phải học hỏi người cha của nhà thông thái Goethe. Ở Đức, có những bài đồng dao vừa đơn giản vừa dễ nhớ, ông đã nhiều lần dạy cho Goethe nhớ những bài đồng dao đó. Ông nói rằng :Vì những bài đồng dao đó có giai điệu hay nên rất dễ nhớ, luyện tập như vậy sẽ giúp cho vốn từ của Goethe được phong phú hơn. Ngoài ra, ông còn dạy Goethe đọc sách lúc chưa tròn 4 tuổi, chủ yếu là những cuốn sách có lời bài hát. Khi lớn hơn một chút, cha ông dưa đi tham quan trung tâm, vùng ngoại ô để nghe về lịch sử cũng như địa lý của vùng đất đó.

Những cách rèn luyện như thế tuyệt đối không thừa. Hãy nhớ rằng trẻ từ 2-3 tuổi là những bộ óc thiên tài. ở giai đoạn này trẻ càng được luyện tập nhiều thì sau này trở nên thông minh,

Điều 15: Rèn luyện tư duy

Không chỉ rèn luyện trí nhớ, để trí não của trẻ trở nên thông minh, cha mẹ phải chú trọng rèn luyện tư duy cho trẻ khi lên 3 tuổi. Hoạt động ghi nhớ và tư duy diễn ra ở những vùng hoàn toàn khác nhau trong đại não. Hoạt động ghi nhớ diễn ra ở thùy thái dương, còn hoạt động tư duy diễn ra ở thùy trán. Hoạt động của thùy trán khi luyện tập sẽ rất nhanh nhạy nhưng khi không rèn luyện, thì sẽ kém linh hoạt và trở nên trì độn. Bởi vì không hoạt động thường xuyên thì bộ phận đại não không phát triển mà còn gây thoái hóa đại não.

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Nuôi dạy trẻ theo phương pháp Shichida

Điều 16: Cho trẻ vận động đủ

Cha mẹ không chỉ nên chú trọng giáo dục trí tuệ cho côn trẻ mà cần các phương diện khác như sức khỏe, thể thao, đạo đức, giáo dục, tình cảm.

Khi trẻ lên 2 hãy cho trẻ đi bộ đều đặn mỗi ngày. Quy định mỗi ngày con phải đi từ 10-20m và nên bắt đầu cho con tập chạy. Bắt đầu từ độ tuổi này, khả năng vận động vốn có của trẻ sẽ sớm được định hình

Điều 17: Làm vở học chữ

Cha mẹ hãy áp dụng cách thức sau đây để tăng vốn từ vựng cho con: tặng vở học chữ cho con, vở phải có các chữ cái theo thứ tự a,b,c. Phía bên phải mỗi trang, cha mẹ hãy viết bảng chữ cái theo thứ tự a,b,c cho trẻ. Hãy dạy con phân biệt danh từ, động từ, tính từ…

Điều 18: Hãy ghi lại những cuốn sách đã đọc

Cha mẹ hãy ghi lại tên những cuốn sách con đã đọc. Khi 2 tuổi, trẻ đã đọc được cuốn sách này, cuốn sách kia. Vì vậy, cách khuyến khích con đọc nhiều sách hơn và ghi nhớ tốt hơn là cha mẹ hãy hỏi con cuốn sách đó có bao nhiêu trang, con nhớ được bao nhiêu.

Những ghi chép quý giá này sẽ giúp con tự rèn luyện trong quá trình trưởng thành. Cha mẹ hãy tin rằng mỗi lần mình ghi thêm số trang con đã đọc ở mỗi cuốn là mỗi lần giúp trẻ phát triển tinh thần qua từng giai đoạn.

Điều 19: Tự học

Trẻ con thường dễ bị cuốn hút bởi những thứ mới lạ, vì thế hãy tặng cho con một cuốn tự điển dành cho trẻ em và hãy cùng con tìm hiểu cách viết chữ đúng, cũng như ý nghĩa của từ.

Có những lúc ta dù biết được địa chỉ nhưng khi lên xe thì mãi không nhớ ra đường, mà phải dựa vào bản đồ, hoặc vừa đi vừa hỏi mới nhớ ra được. Tương tự như vậy, trẻ sẽ dễ tiếp thu kiến thức nếu như con buộc phải tra cứu từ một cách khó khăn, vất vả hơn là dựa vào sự chỉ dẫn của cha mẹ.

Điều 20:  “4 điều” cần nuôi dạy trẻ

Cuối cùng, kiến thức quan trọng trong việc nuôi dạy trẻ từ khi sinh ra cho đến khi bé được một tuổi là nuôi dạy theo “4 điều”: thứ nhất: yêu thương con, thứ hai: chăm sóc con, thứ ba: xây dựng ngôn ngữ cho con và cuối cùng là khen ngợi con.

Trích lược: Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ theo phương pháp Shichida – Tác giả: Makoto Shichida

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo sư Phùng Đức Toàn là uỷ viên Ban chấp hành Hội nghiên cứu Giáo dục tương lai Trung Quốc, Phó chủ nhiệm thường vụ Uỷ ban thiếu nhi Hiệp hội ưu sinh và Giáo dục chất lượng cao Trung Quốc. Với những cống hiến của mình cho ngành giáo dục, tên tuổi của ông đã được lưu danh vào những cuốn sách lớn như Từ điển học giả nổi tiếng đương đại Trung Quốc, Những nhân vật nổi tiếng thế giới. Công trình Phương án 0 tuổi (giáo dục sớm) đã nhận giải ưu tú tại triển lãm đầu tiên về sống tốt, dạy tốt toàn Trung Quốc, gỉai bạc tại Hội chơ thành quả khoa học trong điểm nổi tiếng toàn Trung Quốc, giải vàng tại Hội chợ phát minh và tinh phẩm toàn Trung Quốc, giải sáng tạo tại Hội nghiên cứu thí nghiệm giáo dục Trung Quốc, giải thành quả nghiên cứu ư tú giáo dục tương lai Trung Quốc,…

Giáo dục sớm (giáo dục từ 0 đến 6 tuổi) là quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ phát triển trong thời kỳ sinh trưởng của não, nhằm mục đích khai thác tiềm năng của con người. Bài viết dưới đây tóm tắt 15 phương diện của Phương án 0 tuổi trong cuốn Phương án 0 tuổi – chiếc nôi ươm hạt giống tài năng (dành cho trẻ từ 0 đến 6 tuổi)

1. Rèn luyện cơ quan cảm giác

Con người cso 5 giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và vận động. Bất cứ trong năm giác quan đó cũng tuân theo chân lý “dùng thì tiến bộ, bỏ thì thụt lùi”, “nhĩ thông mục minh” (tức là mắt tinh tai thính nghĩa là thông minh). Giống như loài mèo, thị giác phát triển trong hai tháng đầu tiên nếu chúng ta khâu mí mắt không cho tiếp xúc ánh sàng thì mèo sẽ không bao giờ có khả năng thị giác, dây thần kinh thị giác cũng bị teo lại. Phương án 0 tuổi cho rằng cần phải rèn luyện 5 giác quan trước tiên:

  • Cần phải cho trẻ sống trong căn phòng nhiều ánh sáng ngay sau khi chào đời, hãy để trẻ nhìn thấy vật có hình khối lớn, màu sắc sặc sỡ (bạn có thể treo bóng, dây màu, đồ chơi ở chỗ gần nhất cách chỗ nằm của trẻ 40-50cm, thường xuyên để trẻ nhìn thấy gương mặt ngừoi nói chuyện, rèn luyện khả năng co giãn đồng tử (bất ngờ bật tắt đèn)
  • Nơi ở không nhất thiết tránh xa tiếng ồn: hãy để trẻ nghe nhạc, nghe tiếng nói chuyện, tiếng chuông, bước chân, nước chảy…) trừ âm thanh quá lớn.
  • Cho trẻ ngửi các mùi khác nhau, tránh các mùi hôi thối, nấm mốc, hoá chất khử độc..
  • Cho trẻ nếm các vị khác nhau: sau 6 tháng trẻ có thể nếm các vik chua, ngọt, đắng, cay, mặn..(nhúng đũa vào các loại canh, sinh tố hoa quả..)
  • Rèn luyện xúc giác của toàn bộ cơ thể, đặc biệt là xúc giác của tay: đầu ngón tay nơi tập trung nhiều dây thần kinh nối liền trung khu thần kinh ở đại não, thế mới có câu nói “mười ngón tay nối liền trái tim”. Từ nhỏ hãy luyện cho trẻ cầm, nắm, mở, gõ, cấu, véo, kéo, đẩy,.. để chuẩn bị thật tốt cho quá trình lao động của trẻ sau này.

2. Phát triển khả năng giao tiếp xã hội

Bạn cần tạo điều kiện bồi dưỡng giao tiếp xã hội cho trẻ ngay từ sớm, trẻ không còn chứng sợ người lạ mà trở nên thích giao lưu, thoải mái tự tin:

  • thường xuyên có nhiều ngừoi chơi cùng trẻ, dạy trẻ phát âm nói chuyện, chơi thật vui vẻ
  • người tiếp xúc cần có thái độ hoà nhã, thân thiết, thể hiện vui vẻ
  • người lạ khi tiếp xúc không cần nóng vội khiến bé sợ hãi, không doạ nạt, cừoi nhạo
  • ngừoi lớn cũng cần tôn trọng trẻ ngay cả khi khách tới chơi cũng nên chào hỏi, tạm biệt trẻ, không ép trẻ xưng hô lịch sự mà phụ huynh cần làm mẫu, không cưỡng ép trẻ làm việc mình không thích trước mặt khách
  • thường xuyên bé trẻ sang nhà hàng xóm chơi, khích lệ trẻ tự do nói chuyện,

3. Dạy trẻ biết cách quan sát và đặt câu hỏi

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Kể từ ngày bạn bế trẻ lên để trẻ “nhìn thế giới” bạn cần dạy trẻ quan sát môi trường xung quanh, từng bước hướng dẫn trẻ đặt câu hỏi. Phương pháp tốt nhất là khi trẻ nhìn hoặc nghe hoặc sờ thấy vật gì đó bạn nên kịp thời dùng từ ngữ ngắn gọn và đơn giản gọi tên đồ vật.

4. Phát triển thể lực và độ khéo léo

Chúng ta cần kích thích sự phát triển các dây thần kinh hoạt động của trẻ cũng như sự phát triển thể lực và độ khéo léo ngay từ đầu. “Ba tháng biết bò, sáu tháng biết ngồi, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi, đầy năm gọi mẹ”, bạn hãy cố gắng tập cho trẻ vận động như tập thể dục bị động, tập bơi, dleo cầu thang, bò cao thấp,…

5. Rèn luyện kỹ năng lao động và chế tác

Bạn nên khuyến khích con làm việc nhà tự phục vụ mình trong khả năng của trẻ. Như khi trẻ biết đi thì nhờ trẻ lấy hộ đồ, dạy trẻ mặc quần áo, giặt khăn,.. Về phương diên chế tác thì có thể hướng dẫn con cắt giấy thủ công, nặn đất, trồng cây, chăm sóc con vật, làm đồ chơi,…

6. Bồi dưỡng khả năng ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ, hiện tượng và lớp vỏ bên ngoài của tư duy. Nếu thiếu ngôn ngữ loài người sẽ không thể tư duy và tưởng tượng. Bạn đừng nghĩ rằng biết nói là khả năng bẩm sinh của trẻ, chỉ cần không phải là người câm thì khoảng một tuổi trẻ tự nhiên sẽ biết nói rồi sau đó chúng nói véo von suốt ngày như một chú vẹt. Suy nghĩ này là sai lầm vì khả năng ngôn ngữ của trẻ không chỉ có sự phân biệt giữa biết nói sớm và biết nói muôn, nói tốt hay nói không tốt mà còn có sự phân biệt giữa biết nói chuyện và không biết nói chuyện. Vì vậy việc phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ phải bắt đầu ngay từ khi trẻ chào đời, thực hiện biện pháp “đàn gảy tai trâu” là điều tuyệt đối cần thiết.

7. Học nghe và học nói giữ vị trí quan trọng số một

Khi trẻ khoảng 3 tháng tuổi bạn nên dạy trẻ phát âm, bất kể âm nào cũng tốt, lúc trẻ lớn hơn một chút là có thể dạy trẻ tiếng lợn, mèo, gà kêu…trẻ cần sự khích lệ và khen ngợi của cha mẹ để chúng vui vẻ học nói. Cố gắng quy phạm hoá những từ ngữ bạn dạy cho trẻ.

Cần kiên trì cùng tẻ nghe, đoc và học thuộc các bài hát thiếu nhỉ, các câu đố, các bài thơ kim cổ, các câu khẩu lệnh, đặc biệt là kể chuyện cho trẻ nghe thật nhiều.

8. Dạy trẻ học âm nhạc và ca múa

Quá trình học âm nhạc và ca múa thúc đẩy sự phát triển của bán cầu não phải, từ đó giúp con người có năng lực tưởng tượng. Thông qua việc nghe và hát đúng âm, đúng nhịp, nắm bắt được tiết tấu và giai điệu, hiểu được hình tượng âm nhạc và hình tượng ca múa, đồng thời có thể diễn tấu được nhạc cụ khiến ngón tay troẻ nên đặc biệt linh hoạt kích thích trí tuệ phát triển,

Phát triển khả năng âm nhạc và ca múa còn là quá trình giáo dục thẩm mỹ. Nó khiến con người có được năng lực cảm nhận, thưởng thức và biểu hiện cái đẹp, từ đó có được tình yêu đối với cái đẹp, khiếu thẩm mỹ cũng như khả năg sáng tạo ra cái đẹp nhờ vậy mà cuộc sống con người trở nên phong phú hơn.

Quá trình dạy trẻ này bao gồm các bước cơ bản như cho trẻ nghe nhạc sau khi sinh ra, cho trẻ nghe hàng ngày các giai điệu du dương, bản nhạc nổi tiếng. Trẻ sẽ đi từ lạ lẫm đến yêu thích, từ yêu thích tới lĩnh hội nhờ đó có thể cảm nhận cái đẹp.

9. Dạy trẻ học hội hoạ và tạo hình

Cũng giống như âm nhạc và ca múa, việc bồi dưỡng năng lực hội hoạ và tạo hình cho trẻ cũng là một phần của giáo dục trí tuệ và thẩm mỹ. Nó kích thích bán cầu não phải phát triển, tăng cường khả năng tưởng tượng cũng như năng lực tư duy hình tượng và sáng tạo cho trẻ.

Tiêu chuẩn cơ bản của giáo dục mỹ thuật từ nhỏ là không dựa trên cơ sở nét vẽ có giống hay không

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

Giáo dục sớm Phương án 0 tuổi Phùng Đức Toàn

giống để đánh giá mà phải xem trẻ có yêu thích các sự vật đẹp đẽ, các tác phẩm mỹ thuật hay không, xem trẻ có dũng cảm để vẽ và tạo hình. Do đó, giáo dục mỹ thuật ngay từ nhỏ phải tiến hành theo các bước sau: thường xuyên dẫn trẻ đi ngắm các đồ chơi, sản phẩm thủ công mỹ nghệ đẹp, tham quan phong cảnh thiên nhiên, công trình kiến trúc, bức danh hoạ… Các sắp đặt và trang trí đồ vật trong nhà cũng cần chú ý tới sự thống nhất giữa vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp nhân tạo. Nên thường xuyên đưa trẻ đi tham quan triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh nghệ thuạt, mua một vài bức tranh về nhà và bình luận vẻ đẹp của chúng.

Bất kể một yếu tố nào trong đời sống tinh thần của con người (bao gồm trí tuệ, tình cảm và đời sống nghệ thuật) đều không thể ép buộc và cần phải dẫn dắt, cuốn hút để tự bản thân con người cảm thấy vui vẻ mới có thể gặt hái được thành công.

10. Dạy trẻ chơi đồ chơi, tự tạo đồ chơi và làm thí nghiệm

Đồ chơi là thiên sứ của trẻ em và hầu như em nhỏ nào cũng thích trò chơi. Đó là do nhu cầu được tiếp xúc, được sờ, được quan sát, được suy nghĩ và nhận thức thế giới và nhận thức cuộc sống cũng như những đòi hòi trong quá trình kích thích sự phát triển của trí tuệ quyết định. Nó không khác gì việc trẻ sinh ra cần phải được ăn các món ăn ngon.

Đồ chơi của trẻ em không cần phải càng nhiều càng tốt, càng đắt càng hữu ích, mới mua sẽ tốt hơn tự tạo. Mua đồ chơi cho trẻ và dạy chúng chơi cũng là một nghệ thuật. Người lớn nên mua đồ chơi cho trẻ một cách có mục đích. Người lớn không dược mua đồ chơi cho trẻ chỉ để yên chuyện, càng không mua trong lúc khóc ăn vạ.

Chúng ta nên lựa chọn đồ chơi theo lứa tuối và yêu cầu giáo dục. Các bậc cha mẹ có thể kham khảo trình tự tăng lên về số lượng và chất lượng của các loại đồ chơi như sau:

Đối với trẻ 0-1 tuổi: ưu tiên đồ chơi sờ nắm được, có màu sắc tươi tắn, âm thanh vui tai, dễ cầm nắm (chuông, trống, động vật nhỏ, quả cầu, bóng da,..)

Đối với trẻ 1-2 tuổi: chơi loại đồ chơi có thể chuyển động được, đồ chơi khích thích sự phát triên các động tác của đôi tay

Đối với trẻ từ 2-3 tuổi: đồ chơi mang tính mô phỏng nhằm kích thích trí tưởng tượng của trẻ

Đối với trẻ 3-4 tuổi: đồ chơi mang tính trí tuệ như miếng gỗ ghép hình, nhận biết mặt chữ, chức năng ghi âm, bức tranh nghệ thuật,

Trẻ từ 4 tuổi trở lên: tăng cường đồ chơi thể tháo, đồ chơi xây dựng, đồ mang tính trí tuệ như kính phóng to, hiển vi, nam châm, kim chỉ nam, nhiệt kế…

Cha mẹ có thể tự làm đồ chơi cho trẻ từ các công cụ hay đồ vật trong nhà như chơi cát, nghich bùn với xô chậy, mùa xuân làm diều, mùa hè làm chong chóng, mùa thu làm chuồn chuồn tre, tết đến làm đèn lồng…

11. Cuộc sống và các trò chơi tập thể

Với những trẻ 3 tuổi chưa đi nhà trẻ cũng cần phải thường xuyên vui đùa với các bạn cùng trang lứa. Trẻ sau 3 tuôi nên đi nhà trẻ nửa ngày hoặc nhiều hơn để cùng sinh ohatj vui chơi với bạn nhỏ khác. Những tính cách, năng lực chỉ có thể bồi dưỡng thông qua cuộc sống và trò chơi tập thể như tình yêu thương, tinh thần hợp tác, tính hào phóng, kỷ luật, vui vẻ và công bằng, lễ phép và tự tôn, quan niệm tập thể, ý thư cạnh tranh, tinh thần trách nhiệm… Do đó chúng ta không được biến trẻ thành báu vật trong nhà, không cho ra ngoài, không cho đi nhà trẻ thì chúng trở nên cô độc, rụt rè nhút nhát, ích kỷ.

12. Dạy trẻ lòng yêu thiên nhiên và nhận thức thiên nhiên

Thiên nhiên là một cuốn sách với những nội dung cực kỳ phong phú. Trong điều kiện có thể, các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi du lịch, hoặc dã ngoại để chúng có nhiều cơ hội tiếp xúc với sông suối, mặt đất, đại dương. Ngay từ sớm, trẻ nên biết nhiều tên về loại hoa, lá cỏ cây chim thú. Bởi những ân huệ mà thiên nhiên mang lại cho con người được thể hiện ở nhiều phương diện, không chỉ là quần áo thực phẩm mà còn là suối nguồn nuôi dưỡng tinh thân con người.

13. Dạy trẻ tìm hiểu và nhận thức xã hội

Trong điều kiện có thể các cha mẹ có thể đưa con đi thăm các công xưởng, cửa hàng, trường học, bảo tàng, về miền nông thôn để trẻ tận mắt nhìn người lớn làm gì,nói gì lao động ra sao,

14. Dạy trẻ nhận biết mặt chữ và đọc hiểu từ sớm

Phương án 0 tuổi coi việc nhận biết mặt chữ và đọc hiểu là một phần của quá trình bồi dưỡng ngôn ngữ thị giác ngay từ giai đoạn đầu.Đây là một phát hiện và sáng tạo quan trọng của giáo dục tố chất, mang tầm ý nghĩa của thời đại. Việc phát triển ngôn ngữ thị giác sớm vô cùng cần thiết mà hoàn toàn có thể thực hiện được

15. Các hoạt động khác

Giáo dục sớm nhấn mạnh việc phải bồi dưỡng trẻ thông qua một cuộc sống phong phú trên nhiều phương diện nhằm xây dựng nền móng vững chắc kiên cố cho sự phát triển của các em sau này.Dựa trên cơ sở những đam mê, phong phú của trẻ để áp dụng phương pháp giáo dục phù hợp sở trường.

Chernyshevsky có nói Muốn trở thành con người có giáo dục thật sự thì bắt buộc phải có ba phẩm chất: tri thức uyên bác, thói quen tư duy và nhân cách cao quý. Vốn trí thức ít ỏi khiến con người trở nên ngu dốt, không có thói quen tư duy khiến con người trở nên thô lỗ, vụng về, không có nhân cách cao quý con người sẽ trở nên thấp hèn.

Erikson

Erik Erikson sinh ra tại Đức năm 1902, ông là một nghệ sỹ và giáo viên. Ông bắt đầu quan tâm đến tâm lý học khi gặp Anna Freud (con gái của Sigmund Freud – ông tổ của ngành phân tâm học). Năm 1933, ông làm việc tại Đại học Y dược Harvard, sau đó chuyển tới đại học Yale và bắt đầu quan tâm tới ảnh hưởng của văn hoá và xã hội đến sự phát triển của trẻ em. Tác phẩm đầu tiên của ông – Trẻ em và xã hội (Childhood and Society) xuất bản lần đầu năm 1950 được các nhà giáo dục học và tâm ký học đánh giá là một tác phẩm kinh điển cho đến thời đại ngày nay.

Các công trình của Erikson rất quan trọng đốiv ới các nhà giáo dục mầm non vì nó chỉ ra nền tảng phát triển cảm xúc, xã hội, sức khoẻ và tinh thần trẻ như thế nào. Lý thuyết của ông thường được biết đến là Tám giai đoạn của đời người (eight stages of psychosocial development). Erikson cho rằng mỗi giai đoạn phát triển đều có một nhiệm vụ cần hoàn thành. Khi trải qua mỗi giai đoạn thì chúng ta định hình được điểm mạnh hoặc điểm yếu của tính cách dựa trên sự phát triển diễn ra trên giai đoạn đó. Để mô ta điều này, Erikson đưa ra khái niệm Sự khủng hoảng bản sắc, đó là điều không thể tránh khi mà những người trẻ sẽ trải nghiệm sự xung đột khi lớn lên và biến đổi để trở thành những người trưởng thành.

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson

1. Từ khi sinh ra – 12 tháng tuổi: Giai đoạn Tin tưởng (trust) >< Nghi ngờ (mistrust), phát triển mạnh về Hy vọng

2. Từ 1 – 3 tuổi: Giai đoạn Tự chủ >< Xấu hổ và Ngờ vực (Doubt, phát triển mạnh về ý chí

3. Từ 3 – 6 tuổi: Giai đoạn sáng tạo >< Cảm thấy tội lỗi, phát triển mạnh về mục đích

4. Từ 6 – 11 tuổi: giai đoạn chăm chỉ >< Mặc cảm tự ti, giai đoạn phát triển về năng lực

5. Vị thành niên: giai đoạn Bản sắc >< Nhầm lẫn vai trò, giai đoạn phát triển về trung thành

6. Thanh niên: Giai đoạn gắn bó >< Cô lập, phá triển mạnh về yêu thương

7. Trung niên: Giai đoạn về năng lực giáo dục thế hệ sau >< Trì trệ, phát triển về chăm sóc

8. Tuổi già: Giai đoạn về viên mãn > < Tuyệt vong, phát triển về thông thái

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của con người

Tám giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của con người

Erikson cho rằng những năm tháng đầu đời mẫu hình phát triển sẽ quy định hoặc ảnh hưởng tới hoạt động và tương tác của một con người trong suốt phần đời còn lại. Ba giai đoạn đầu đời là các “cửa sổ cơ hội” hoặc lịch trình phát triển. Chúng báo cho ta biết khi nào thì bộ não sung sức nhất để có thể tiếp nhận những dạng thức học tập đặc thù.

Dưới đây là ba giai đoạn đầu đời bởi đây là giai đoạn ảnh hưởng tới trẻ trong những năm tháng ấu thơ.

Tin tưởng đối lập với Nghi ngờ

Nhiệm vụ của trẻ trong giai đoạn này là phát triển cảm giác bản thân mình, tin tưởng người khác và tin tưởng thế giới xung quanh. Sự tin tưởng với hai thành phần: phần bên ngoài là niềm tin cho rằng những người lớn quan trọng với trẻ sẽ hiện diện để đáp ứng nhu cầu của trẻ và phần bên trọng là niềm tin vào  năng lực bản thân có thể tạo ra sự thay đổi và đương đầu với tình huống. Những đứa trẻ thích ứng thành công giai đoạn này sẽ tiến đến năm thứ 2 của cuộc đời với cảm giác chắc chắn rằng thế giới là nơi tốt đẹp để tồn tại. Khi có sự gắn bó đứa trẻ cảm giác an toàn và thoải mái, ngừoi lớn chính là điểm tựa để bé khám phá xung quanh, khi gặp bất kỳ sự đe doạ, bất thường thì chúng cần quay trở lại vòng tay của người chúng tin tưởng thật nhanh để cảm thấy thoải mái và được bảo vệ.

Điểm phổ biến của những đứa trẻ thiếu sự gắn bó với người quan trọng thì chúng sẽ không phát triển được khả năng thấu cảm. Khi nhu cầu không được đáp ứng, chúng không phát triển sự tin tưởng vào bản thân hoặc thế giới xung quanh.

Erikson đưa ra ba hoạt động hỗ trợ khi phát triển sự tin tưởng là cần:

  • bế khi cho trẻ ăn (mỉm cười, cưng nựng và trò chuyện, không nên nói chuyện với người khác, dùng điện thoại hoặc thờ ơ với trẻ,…)
  • Đáp ứng lại những dấu hiệu khó chịu của trẻ
  • Hỗ trợ sự gắn bó của trẻ thông qua công việc chăm sóc chính

Sự tự chủ đối lập với xấu hổ và nghi ngờ

Nhiệm vụ của giai đoạn này là thu được cảm giác về sự tự chủ độc lập mà không phải chịu cảm giác xấu hổ hoặc nghi ngờ. Trẻ thích nghi được sẽ có cảm giác mạnh mẽ về bản thân, chúng có khả năng tách biệt với cha mẹ một cách tự tin hoặc người chăm sóc chính trong khoảng thời gian nhất định. Giai đoạn này đôi khi trẻ muốn độc lập một cách dữ dội trong chốc lát rồi sau đó lại quay lại bám víu nũng nịu, tức trẻ đối mặt với thách thức ôm giữ và buông bỏ. Việc ôm giữ và buông bỏ đều có thể là nguồn xung lực mang tính tích cực và tiêu cực trong hành vi con người. Sự ôm giữ có tể mang tính huỷ hoại (không chịu nhượng bộ, không chịu hợp tác) hoặc mang tính xây dựng (gắn bó với người đặc biệt với mình, can đảm đương đầu với nghịc cảnh hoặc bền bỉ kiên trì). Sự buông bỏ có thể mang tính huỷ diệt (cơn thịnh nộ, mất kiểm soát khi giận dữ, đánh đấm, cắn xé). Nó cũng có thể mang tính xây dựng như hợp tác, chia sẻ đồng tình. Một lần nữa đây lại là vấn đề sự cân bằng.

Erikson và lý thuyết giai đoạn tâm lý con người

Erikson và lý thuyết giai đoạn tâm lý con người

Erikson cho rằng những đứa trẻ trong tuổi chập chững biết đi (toddler) đều cố gắng cân bằng giữa ôm giữ và buông bỏ và một trong những chướng ngại lớn đối với trẻ đó là sự kiểm soát thái quá của người lớn, cản trở hoặc cưỡng lại yêu cầu ngày càng độc lập của trẻ. Giai đoạn này là thời điểm quan trọng trong sự phát triển vì kết quả của nó sẽ được định hình ở phạm vi rộng lớn, tỷ lệ yêu và ghét, hợp tác hay thiếu hợp tác, tự do thể hiện hoặc dồn nén cảm xúc trở thành một phần bản chất con người.

Ở giai đoạn này Erikson tin rằng người lớn cần nuôi dưỡng tính độc lập của trẻ bằng cách:

  • Đưa ra cho trẻ những lựa chọn đơn giản
  • Không đưa ra những lựa chọn sai
  • Thiết lập những giới hạn rõ ràng, thống nhất và hợp lý
  • Chấp nhận sự dao động của trẻ giữa sự tự lập và lệ thuộc, xác nhận với trẻ cả hai đó đều tốt cả.
Đưa ra những lựa chon đơn giản:
  • Sắp xếp các hoạt động, vật dụng mang tính lưạ chọn (giá để đồ thấp sao cho bé tự lấy đồ mà không cần sự trợ giúp, cần có nhiều đồ chơi giống nhau vì sự chia sẻ là kỹ năng chưa được phát triển ở độ tuổi này,
  • Tránh cho trẻ muốn chơi một lúc nhiều thứ, thừa nhận cảm xúc của trẻ kiểu câu như:”mẹ biết con muốn ra ngoài ngay bây giờ, mẹ cũng muốn chúng ta ra ngoài, chúng ta ra ngoài sau khi thay tã đã nhé”,
  • Dùng các câu hỏi lựa chọn vừa tầm như “con muốn A hay B”
Loại bỏ lựa chọn sai:
  • Không dùng các câu hỏi tu từ, cố gắng diễn đạt về việc Làm thế nào chứ không phải liệu là có hay không, thế này hay thế kia. Ví dụ: “Bây giờ chúng ta sẽ ra ngoài, con muốn mẹ giúp con mặc áo khoách hay muốn tự mặc?” Tức việc “ra ngoài” là không thể lựa chọn, mà trẻ lựa chọn tự mặc đồ hay nhờ giúp.
Đặt ra những giới hạn rõ ràng

Giai đoạn này cuộc đấu tranh của trẻ giữa kiểm soát bên trong và kiểm soát bên ngoài rất mạnh mẽ, trẻ chủ yếu làm việc dựa trên cảm thức về bản thể của chính mình mà những cái khác vẫn còn sơ khai. Chúng có thể đẩy, đánh mọi vật, vì thế người lớn cần trợ giúp trẻ trong giai đoạn này, khi  những giới hạn (môi trường bên ngoài vốn được người lớn đặt ra rõ ràng thì trẻ có thể học được cách kiểm soát bên trong)

Chấp nhận các nhu cầu dao đông giữa độc lập và phụ thuộc

Trẻ có thể làm việc một cách rất bướng bỉnh và để trẻ làm theo ý mình giai đoạn này rất quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ, trừ khi trẻ đẩy mình vào nguy hiểm.

Sáng tạo đối lập với mặc cảm tội lỗi

erik-erikson-stages-of-development-11-638

erik-erikson-stages-of-development-11-638

Đây là giai đoạn cối của lý thuyết Erikson về những năm thơ ấu đầu đời của trẻ lên 4 lên 5. Giai đoạn này trẻ tràn đầy năng lượng và sẵn sàng học hỏi. Chúng thường quên nhanh lỗi chúng vừa mắc phải nhưng cũng sẵn sáng lắng nghe và học hỏi từ giáo viên, cha mẹ và từ trẻ khác. Nếu trẻ vượt qua giai đoạn 2 thành công thì giai đoạn 3 trẻ rèn được tính tự chủ, đỡ bướng bỉnh.

Trẻ giai đoạn này sẽ hướng đến việc làm thế nào để mọi việc hoàn thành hơn là kiểm soát bản thân, chúng tin tưởng bản thân có thể hoàn thành một cách độc lập, chúng có khả năng học hỏi từ những sai lầm mà không cảm thấy tội lỗi về những thứ không diễn ra theo đúng kế hoach. Giai đoạn này, sự phát triển của trẻ có xu hướng phân tách thành 2 hướng: đạt được năng lực mang tính đặc thù của con người hướng tới vinh quang hoặc tới huỷ diệt. Do đó cần hướng trẻ đến những hoạt động mang tính tích cực, đoàn kết tăng độ tự tin cho trẻ.

Chúng ta không nên làm thay cho trẻ, để ý vào các lỗi sai của trẻ trong quá trình phát triển thì cảm thức về tính sáng tạo sẽ biến thành mặc cảm tội lỗi và chán nản hoặc trẻ bị kỳ vọng vượt quá khả năng của chúng bởi người lớn. Để hỗ trợ giai đoạn này, Erikson cho rằng người lớn có thể

  • khuyến khích trẻ tự lập tối đa có thể
  • Tập trung chú ý vào thành quả trẻ đạt được khi thực hành kỹ năng mới thay vì lỗi sai
  • đặt ra các kỳ vọng phù hợp khả năng riêng của trẻ
  • Xây dựng chương trình học tập trung vào thực tế và vào việc thực hiện hoạt động

Nguồn: Các lý thuyết về tâm lý trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget và Vygotsky – Carol Garhart Mooney. (Thaihabooks)

phuong phap Shichida

Trích lược về Giáo dục trẻ theo phương pháp Shichida

trong cuốn “Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ dưới 7 tuổi theo phương pháp Shichida (phần tiếp)

Xem phần 1

Makoto Shichida sinh năm 1929 tại tỉnh Shimane, Nhật Bản, ông là tiến sỹ giáo dục, hiệu trưởng Viện giáo dục trẻ em Shichida. Năm 1997, ông được trao giải thưởng Dịch vụ Văn hoá-xã hội của Hiệp hội phát triển Văn hoá Nhật Bản dànha cho cá nhân có nhiều thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực gồm Nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và phúc lợi xã hội. Ngoài ra Hội đồng Khoa học thế giới đã đánh giá phương pháp giáo dục Não phải của M. Shichida là học thuyết giáo dục tốt nhất và được nhận Huân chương Hiệp sỹ của tổ chức hoà bình thế giới vì sự cống hiến xuất sắc.

Hiện ở khắp nước Nhật có 400 lớp nuôi dạy theo Phương pháp Shichida, ngoài ra lớp còn mở rộng ra toàn thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..

Text-Divider

Nuôi dạy con từ 0 – 1 tuổi

Phương pháp Shichida nhấn mạnh rằng cha mẹ không nên bỏ qua giai đoạn đoạn từ 0-1 tuổi của trẻ vì đây là thời kỳ con có nhiều biến chuyển nhất, Makoto Shichida đã chia thời kỳ này thành 4 giai đoạn nhỏ: từ khi chào đời – 3 tháng, 4-6 tháng, 7-10 tháng và 11-12 tháng.

Giai đoạn 1: từ khi chào đời đến 3 tháng tuổi

Đây là giai đoạn năng lực tiếp nhận thông tin bên ngoài của bé phát triển mạnh nhất, cha mẹ nên sáng tạo những cách tác động đến 5 giác quan chính của bé: thị giác – thính giác – xúc giác – vị giác – khứu giác. Phương pháp Shichida đề xuất một số cách như:

Thị giác:

  • đặt xung quanh giường những bức tranh đẹp, nổi tiếng trên thế giới
  • trang trí ngôi nhà với đồ vật nhiều màu sắc (chậu hoa, đồ chơi) để quanh con luôn có màu sắc tươi sáng
  • khi 1 tháng tuổi cố gắng giúp con luyện mặt mỗi ngày 3 phút với các ô vuông đen trắng (lúc đầu 5s – 60-90s). Màu sắc ưa thích giai đoạn này là màu sắc có độ tương phản cao -> vòng tranh trí màu cơ nhỏ (kích thước 6×6 hoặc 2×2 cm) –> bảng chữ cái A, I, U, E, O,… để con quen dần mặt chữ, mỗi ngày đọc con nghe từ 2-3 phút,

Thính giác:

  • nghe các ca khúc nhẹ nhàng, mỗi ngày khoảng 3 lần, mỗi lần 15 phút với âm lượng vừa phải (không cho con nghe âm thanh từ máy móc trong thời gian dài), trò chuyện lắc lư trên đùi theo điệu nhạc hoặc giữ nách nâng lên nâng xuống..)
  • cho con nghe các câu chuyện đa dạng, sử dụng phương pháp lặp đi lặp lại
  • trò chuyện lặp đi lặp lại từ vựng

Xúc giác, vị giác, khứu giác: bú sữa, dùng băng gạc thấm nước ấm, lạnh, ngọt, cay cho bé ném thử một tí

Lực cầm nắm: cho con tập cầm nắm khi mới chào đời

2. Giai đoạn từ 4-6 tháng tuổi

Phương pháp Shichida

Phương pháp Shichida

Giai đoạn này trẻ có thể nhìn khoảng cách 3m, tay có thể nắm một cách có ý thức, theo phương pháp Shichida, cha mẹ có thể phát triển các giác quan của trẻ thông qua một số hình thức sau:

Thị giác:

  • cho con xem các bức tranh đồng thời kể chuyện về bức tranh đó
  • khi đi dạo chỉ cho con càng nhiều hình ảnh ấn tượng càng tốt, nói cho con biết đó là cái gì, gọi tên các đồ vật trong nhà lặp đi lặp lại nhiều lần
  • thử phản xạ của con với ánh sáng đèn để phát hiện tật ở mắt

Thính giác:

  • đưa con đi công viên vườn hoa để nghe âm thanh phong phú của tự nhiên
  • cho con nghe âm thanh nhỏ trống lắc, nói chuyện với con

Vận động: cho con đu trên người để vận động cơ cổ

3. Giai đoạn 7-10 tháng

Thị giác: cho con nhìn các chuyển động đơn giản (mở cửa sổ để thấy chuông gió chuyển động), đi dạo nô đùa

Thính giác: duy trì nghe nhạc nhẹ nhàng nhưng cần bổ sung tiếng khác như tiếng chuông kêu, các bài hát ru các nước trên thế giới, âm thanh đài radio, nói chuyện với bé… để bé tập phân biệt âm thanh

Xúc giác: cho con cầm nắm tay, xé giấy, các hành động gõ, ấn quay bằng cách chơi với kệ chữ A

Vận động: để con bò tự do (càng nhiều càng tốt) giúp phát triển cơ bắp và đẩy mạnh khả năng điều tiết vận động

Giai đoạn 4: từ 11- 12 tháng tuổi

Thị giác: xem truyện tranh, dạy bảng chữ cái bằng phương pháp lặp đi lặp lại, nhìn gương, cho con đi dạo, luyện khả năng quan sát bằng trò tìm đồ vật (để  đồ chơi con yêu thích dưới 1 trong 2 chiếc hộp rồi tráo để con tự chỉ ra đồ)

Thính giác:

  • xem thẻ đồ vật, con vật rồi bắt chước tiếng kêu
  • dạy các bộ phận cơ thể
  • chơi gõ, ấn với cá đồ vật (thau nhựa, bóng, bát đĩa nhựa)

Trí tuệ: dạy con vặn dây cót hộp nhạc, lấy khăn che đồ vật để con tìm, đẩy bóng đi lại xem con có đá lại ko.. Trí tuệ của trẻ phát triển thông qua hoạt động bắt chước: khẩu hình miệng, vỗ tay, xoa tay, ănm tay, gõ hai món đồ chơi vào nhau, tung hứng bóng…

Chữ cái và ngôn từ: giai đoạn này cần phải phát triển ngôn từ một cách rõ ràng, cha mẹ cần không được nản lòng hoặc bỏ cuộc giữa chừng

Nuôi dạy con từ 1 – 2 tuổi

Bí ẩn não phải - M.Shichida

Bí ẩn não phải – M.Shichida

Makoto Shichida chỉ ra rằng trong giai đoạn này trẻ tiếp nhận 3 năng lực quan trọng: khả năng đi-đứng, ngôn ngữ và khả năng xử lý các kỹ năng đơn giản. Trẻ cần có một môi trường tự nhiên để phát triển khả năng ưu việt của mình, nhiệm vụ của cha mẹ là phải tạo không gian đó cho con vì tính hiếu ký của trẻ là cực mạnh, hạn chế tính hiếu kỳ là phản tác dụng và không giúp phát triển các tố chất của con.

Giai đoạn này trẻ biết khám phá mọi vật, thử nghiệm các quy luật vật lý như trọng lức, quỹ đạo, quán tính, sự co giãn để kiểm chứng (giật khăn bàn khiến chén bát đổ vỡ…). Cha mẹ không nên nặng lời cấm đoán mà dẫn dắt con chơi một trò khác,

Giai đoạn này đồ chơi có ý nghĩa rất quan trọng, đồ chơi cần phải những món đồ giúp con học hỏi và tiếp thu được điều gì đó, và cùng một lúc không nên cho con tiếp xúc quá nhiều đồ chơi nhằm giảm tính mất tập trung, không giữ được bình tĩnh của trẻ.

Một số trò chơi mà phương pháp Shichida đưa ra như sau:

  • những trò mềm, cứng, tròn vuông có trọng lượng hình dạng khác nhau
  • tập nèm bóng, trượt xe trên mặt phẳng nghiêng, thả lông vũ rơi tự do, chồng cốc, hình lên nhau theo thứ tự trên-dưới, cao-thấp, trong-ngoài, lớn-nhỏ, chơi thổi bong bóng để dạy về không khí,lực hấp dẫn
  • dạy trẻ về màu sắc
  • búp bê, thú nhồi bông nuôi dưỡng tính xã hội của trẻ
  • làm nhà ở bằng thùng các tông, chơi cầu thanh gỗ 3 bậc lên xuống…
  • trò chơi tìm kho báu nhằm phát triển trí thông minh cho trẻ: giấu đồ vật ngay trước mặt con rồi để con đi tìm (hình thành khái niệm tư duy rằng nơi mắt không nhìn thấy thì vẫn có đồ vật)
  • trò bắt chước: làm theo các động tác của cha mẹ như sờ mắt, mũi, nhéo tai, mỉm cười,.. tập viết chữ,
  • cho con đi chơi cùng các bạn đồng trang lứa nuôi dưỡng tính xã hội
  • tiếp tục cho con xem sách tranh ảnh (ehon) trong thời kỳ này (bí quyết thúc đẩy sở thích đọc sách của bé)

Đây cũng là giai đoạn phát triển chí hướng nên cha mẹ hãy nỗ lực để con không rơi vào cảm giác thất bại. Đặc điểm của trẻ là dần tách khỏi cha mẹ, tự lập, tự phát, khả năng phát triển tư duy nhưng chưa kiểm soát đầy đủ tốc độ chạy nhảy, ăn uống hay suy nghĩ (như có thể chạy thật nhanh nhưng khó rẽ hướng khi cần), do đó điều quan trọng là không để trẻ rơi vào cảm giác thất bại.

Đồ chơi cho con giai đoạn này có thể chia thành 5 loại:

  • Thú nhồi bông: khi mẹ vắng nhà phải để bên cạnh trẻ mọt loại thú nhồi bông để mang lại cảm giác yên tâm, xoa dịu trẻ
  • Đồ chơi khơi giợ trí tưởng tượng: búp bê – nhà búp bê, lego, cát, con rối đơn giản
  • Đồ chơi mô phỏng: bán đồ hàng, xe tải, tàu hoả, mô hình thị trấn, làng mạc, nông trường
  • Dụng cụ thể thao: xe ba bánh, xích đu, cầu thang, cầu trượt, đệm lò xo cỡ nhỏ, bóng
  • Đồ chơi phát triển trí tuệ: locking tower, xếp hình từ nhỏ-lớn, timeshock, lắp ghép xe tải, kính lúp, nam châm (đưa trẻ đến bãi cát chơi để khám phá)

Shichida cho rằng giai đoạn này cần thiết phải cho trẻ đọc chữ, kết hợp chữ và tranh một cách từ tốn, kiên nhẫn, bắt đầu mỗi lần 2-3 phút – 5 phút, nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần

Nuôi dạy trẻ từ 2-3 tuổi

Bí ẩn não phải - M.Shichida

Bí ẩn não phải – M.Shichida

Khi được 2 tuổi, trẻ bước vào thời kỳ tự lập, đây là lúc trẻ muốn rời vòng tay cha mẹ, tự mình làm và học hỏi. Trẻ không thể ngồi yên một chỗ, chạy loanh quanh với một năng lượng dồi dào hệt như vận động viên. Đây cính là nguồn năng lượng và đam mê học hỏi cảu trẻ. Cha mẹ cần lưu ý ba điều quan trọng: vận động – ngôn ngữ – kỹ năng đơn giản

Các hoạt động cần thiết gồm:

  • tản bộ là một hoạt động hàng ngày, từ 1,5 tuổi trở lên cần cho trẻ đi những bước cự ly dài, không nên ẵm bồng, cho trẻ đi trên cả đường dốc, băng qua cầu, chân bước đều lên xuống cầu thang, lăn bóng theo đường chéo để trẻ đi theo, tập chạy (đầu tiên 3m – 10m – 15m), từ 2,5 tuổi có thể chơi giàn nhún để học giữ thăng bằng, tập bật
  • phát triển ngôn ngữ: phát âm chuẩn, rõ ràng,hỏi các câu hỏi định hướng như : con muốn… từ phía nào, con muốn mặc ao/quần/váy… màu xanh/đỏ/.. nào? Dạy con các bộ phận chi tiết trên cơ thể, đồ vật,..lượng từ…
  • mua sách cho con đọc, một ngày có thể từ 5-10 quyển. Đọc thơ, đồng dao, truyện cổ tích cho trẻ
  • tích cực sử dụng các từ ngữ thể hiện nhân quả
  • tập các công việc sử dụng kỹ năng đơn giản như buộc dây giày, rửa tay, cài nút, thắt nơ, tập nặn đất sét…
  • tham gia phụ các công việc nhà đơn giản, khen ngợi trẻ, dọn dẹp đồ chơi vào đúng vị trí
  • trò chơi xây nhà, lắp ráp, lego
  • phân loại vật như đậu, cúc áo,kẹp giấy,…

Hai tuổi chính là khoảng thời gian thiên tài của trẻ, đây là khoảng thời gian phát triển nhanh nhất của trẻ, xây dựng những năng lực nền tảng do đó cha mẹ không nên lơ là giai đoạn này. Trẻ có trí nhớ siêu việt với âm thanh,Vì thế giai đoạn này tập luyện trí nhớ cho trẻ càng khó càng tốt: như nhớ cờ các quốc gia, các loại xe ô tô, ghi nhớ tên đường, ga tàu, bài hát – ca sỹ, quan sát sự vật nhỏ như đàn kiến, đống lá, vườn thú, thuỷ cung, biển, hỏi con thấy những gì sau các chuyến đi, nghe các bài hát ru của các nước.

Nuôi dạy trẻ từ 3-4 tuổi

Đây là giai đoạn thuỳ trán tức khu vực phát triển về mặt tư duy, suy nghĩ của trẻ phát triển mạnh nhất. Vì thế, cần chú trọng thêm vào việc dạy trẻ tự suy nghĩ.

Các hoạt động hữu ích:

  • trò chơi lắp ghép (lắp ghép các mảng tam giác đỏ, vàng xanh thành các hình khác nhau là tốt nhất cho độ tuổi này)
  • các trò luyện kỹ năng khéo léo như cắt gián, xếp giấy, tạo hình bầng dây, nút thắt,…
  • cho con trải nghiệm các hoạt động đời sống thực để con tập tự lập một phần như đi chợ, siêu thị, leo núi, tham quan du lịch, thư viện,… (cha mẹ hãy cho con tường thuật lại những trải nghiệmriêng bằng ngôn từ trừu tượng, liên tưởng
  • cho đọc truyện tranh , mỗi ngày nhất định cha mẹ đọc cho con mọt vài cuốn

Đây cũng là giai đoạn tốt để học ngoại ngữ, tạo môi trường giúp trẻ phát triển toàn diện các kỹ năng như hội hoạ, vận động, tưởng tượng, ghi nhớ một cách tự nhiên nhất. Mỗi ngày cha mẹ dành khoảng 20-30 phút để dạy con những điều phù hợp.

Các thiên hướng sở thích của trẻ giai đoạn này sẽ định hình trí lực và khả năng tập trung của trẻ. Điều quan trọng giáo dục trẻ em là giáo dục nhân cách. Nhân cách của mỗi trẻ về bẩm sinh là hoàn toàn khác nhau, cha mẹ nên để trẻ đi những bước đầu tiên của mình một cách tự nhiên nhất.

Nuôi dạy trẻ từ 4 tuổi trở lên

Vào độ tuổi này, các tế bào não của trẻ bắt đầu tiếp nhận kích thích từ thế giới bên ngoài và ở giai đoạn đầu, sẽ phát triển các dạng tế bào não gọi là tế bào matrix (ma trận). Lúc này càng tiếp nhận được nhiều kích thích, các tế bào não sẽ càng thay đổi nhiều tế bào có DNA trội, sau đó dần dần phân hoá thành 2 loại tế bào gồm tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đêm GLial. Điều quan trọng là các tế bào thần kinh nơ-ron sẽ không tăng thêm nữa, bộ não trẻ đã bước vào giai đoạn hoàn thiện. Thời kỳ từ đây trở về sau, trẻ luôn phải sáng tạo.

4 tuổi là giai đoạn trẻ có năng lực sáng tạo phong phú hơn, song lại ham chơi. Tiến sỹ tâm lý học giáo dục E.P. Trance của đại học Georgia, Mỹ cho biết: “Năng lực sáng tạo của trẻ phát triển nhanh chóng khi bước vào giai đoạn 3 tuổi, phát triển tối đa trong giai đoạn 4 tuổi đến 4 tuổi rưỡi và mai một khi trẻ lên 5 tuổi.

Một số cách Shichida đưa ra bồi dưỡng năng lực sáng tạo:

  • khi con đặt câu hỏi thì cần phải lắng nghe và cùng con tìm ra câu trả lời, dạy con giải đáp thắc mắc
  • đặt ra những câu đố thú vị để con đi tìm câu trả lời
  • tăng cường năng lực tập trung, khi trẻ đang tập trung thì cha mẹ không được chen vào
  • chọn các trò chơi trí tuệ (như lắp ghép)
  • không nên để con lúc nào cũng thấy chán chường, khen ngợi con
  • cho còn trải nghiệm thật nhiều vào những việc mang tính nghệ thuật hay sáng tạo
  • giàu kiến thức là nền tảng giúp con tìm tòi cái mới. đọc cho con nhiều sách, tặng sách liên quan đến khoa học
  • cư xử với con như người lớn
  • cho con quyền quyết định những hoạt động của bản thân (ăn uống, mặc hoặc đi đâu đó)
  • cho con trải nghiệm “màn trình diễn” của bản thân (tức trải nghiệm những việc con đã làm thành công bằng chính sức lực của mình)
  • đừng khiến con sợ thất bại
  • dạy con biết vui vẻ tiếp thu những trải nghiệm lần đầu tiên và mạnh dạn hơn trong mọi việc.
Prof.-Shichida

Trích lược về Giáo dục trẻ theo phương pháp Shichida

trong cuốn “Phát triển trí thông minh và tài năng của trẻ dưới 7 tuổi theo phương pháp Shichida

Makoto Shichida sinh năm 1929 tại tỉnh Shimane, Nhật Bản, ông là tiến sỹ giáo dục, hiệu trưởng Viện giáo dục trẻ em Shichida. Năm 1997, ông được trao giải thưởng Dịch vụ Văn hoá-xã hội của Hiệp hội phát triển Văn hoá Nhật Bản dànha cho cá nhân có nhiều thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực gồm Nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và phúc lợi xã hội. Ngoài ra Hội đồng Khoa học thế giới đã đánh giá phương pháp giáo dục Não phải của M. Shichida là học thuyết giáo dục tốt nhất và được nhận Huân chương Hiệp sỹ của tổ chức hoà bình thế giới vì sự cống hiến xuất sắc.

Hiện ở khắp nước Nhật có 400 lớp nuôi dạy theo Phương pháp Shichida, ngoài ra lớp còn mở rộng ra toàn thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,..

1.Bộ não trẻ hoạt động ưu việt nhất ở giai đoạn sơ sinh

Cùng quan điểm với nhà giáo dục trẻ em vĩ đại người Ý, bà Maria Montessori, Makoto Shichida cho rằng bộ não của trẻ em hoạt động tốt nhất ở giai đoạn trẻ sơ sinh với năng lực hấp thụ vô cùng kỳ diệu. “Năng lực hấp thụ (khả năng tế bào thần kinh hấp thụ) này mất đi ở người lớn nhưng lại là một năng lực kỳ diệu có thể sánh ngang năng lực sáng tạo của thần linh. Song do trẻ tiếp nhận các tác động, kích thích của môi trường sống từ khi sinh ra và chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xung quanh nên khả năng hấp thụ này sẽ nhanh chóng biến mất”. Năng lực này hoạt động mạnh mẽ nhất ở giai đoạn từ 0 – 2 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau giai đoạn đó, dù làm cách nào cũng không thể có lại năng lực này.

shichida-records

Shichida method -records

Tuy nhiên ở giai đoạn khả năng hấp thụ của não trẻ hoạt động tuyệt với đến mức thiên tài mà không được cha mẹ biết đến, vì không nhận được kích thích tác động có tính giáo dục từ cha mẹ, bộ não trẻ em sẽ không thể phát huy tối ưu và năng lực này biến mất, khiến bộ não bị thoái hoá nhanh chóng, sau này dù trẻ cỏ nhận được những tác động có tính giáo dục ưu tú đến đâu, năng lực đó sẽ không khơi dậy lại được.

Sau 6 tháng chào đời, những cấu trúc cơ bản của não trẻ sẽ thành hình. Theo nghiên cứu của Noam Chómky về những đặc tính bẩm sinh của trẻ, có thể não trẻ có những cấu trúc chức năng tiếp thu ngôn ngữ nhanh chóng, vậy nên hãy sử dụng nhiều ngôn từ đa dạng để dạy trẻ từ lúc chào đời. Ở giai đoạn này trẻ không nắm bắt và ghi nhớ ý nghĩa mà chỉ đơn giản là đưa sau vào tiềm thức vì thế cha mẹ đừng bỏ qua giai đoạn 6 tháng ngắn ngủi chỉ để bé yên lặng ngủ, hoặc nhàm chán ngoan ngoãn mà không có những tác động phù hơp.

Shichida cho rằng cần phát triển các tác động, kích thích trí tuệ tích cực bởi trẻ giai đoạn 0-1 tuổi có thể lĩnh hội những tố chất thiên tài khi được đặt trong một môi trường giáo dục bậc cao vì sau sinh bé có năng lực hấp thu bí ẩn. Tuy nhiên nếu không gặp được môi trường thích hợp thì năng lực này sẽ nhanh chóng mất đi.

2. Hai mô hình học tập của trẻ

Trẻ nhỏ học tập hoàn toàn khác người lớn, Shichida đưa ra cấu trúc hai tầng của việc học tập của trẻ gồm kiểu học nhớ y nguyên và kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu học nhớ y nguyên

Trẻ sẽ không cảm nhận được màu sắc bằng cách phân biệt trừu tượng màu xanh, màu đỏ mà sẽ cảm nhận tổng hoà các màu sắc phức tạp giống như ta cảm nhận gương mặt người khác. Mô hình tri giác thế giới bên ngoài của trẻ nhỏ, đặc biệt là từ 0-1 tuổi không phải phát triển từ đơn giản đến phức tạp mà là sự tri giác những kích thích nhận một cách nguyên vẹn, không liên quan đến độ phức tạp hay đơn giản, vì thế kích thích tri giác cho trẻ ở giai đoạn này nên là những kích thích phức tạp. Các kích thích này không được quá mức nhưng phải được lặp đi lặp lại.

Kiểu học nhớ từng cái một

Kiểu nhớ này thể hiện trong việc học từ vựng, cha mẹ cần thường xuyên nói chuyện với trẻ về các vấn đề phức tạp và lặp đi lặp lại các từ vựng gần gũi với trẻ. Những quan sát thực nghiệm cho thấy nếu cho trẻ học nghe, nuôi dưỡng ngôn ngữ một cách phong phú đa dạng thì trẻ sẽ nói rất nhanh, nội dung câu nói trở nên mạch lạc rõ ràng,

Để trẻ nhớ được một từ, trẻ có thể sẽ phải lặp đi lặp lại từ đó hàng ngàn lần, tuy nhiên ở từ tiếp theo thì chỉ cần một phần nhỏ nỗ lực đó, và phản ứng với kích thích tiếp theo sẽ rất nhanh chóng, nhờ đó thần kinh phản ứng sẽ phát triển mạnh mẽ. Mạch thần kinh các phát triển thì càng trở nên tối ưu.

3. Quá trình phát triển năng lực của trẻ

phương pháp Shichida

Phương pháp Shichida

Thời kỳ thứ 1 (từ 0-6 tháng): thời kỳ phát triển năng lực tiếp thụ (cảm giác)

Thính giác phát triển trước nhất, tai trẻ mẫn cảm và phản ứng với các tác động từ môi trường xung quanh. Thị giác: trẻ có thể tập trung cả 2 mắt vào một điểm tuy nhiên sự vận hành chưa đầy đủ, đến 3-4 tháng cơ xoay của nhãn cầu phát triển đầy đủ thì thị giác mới bắt đầu nhạy cảm nhất. Đây là giai đoạn cha mẹ cần cho xem các bức tranh đẹp. Xúc giác: tháng thứ 5 mới lan rộng khắp khi phát triển khả năng chỉ trỏ. Khứu giác và vị giác: từ tháng thứ 5 mới bắt đầu mẫn cảm.

Nhìn chúng, giai đoạn này nên cho trẻ nghe hát ru thì thính giác sẽ khắc ghi sâu hơn, mạch thần kinh cũng trở nên phức tạp. Giai đoạn này trẻ thường suy dinh dưỡng học tập. Cha mẹ nên:

  • hát ru, đọc các bài thơ ca có nhịp điệu
  • cho bé ngắm các bức danh hoạ, tranh đẹp
  • nghe nhạc hay
  • xem truyện tranh

Thời kỳ thứ 2: (6 tháng đến 3 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực biểu đạt (năng lực sáng tạo)

Đây là giai đoạn nuôi dưỡng các năng lực thực sự của trẻ, cha mẹ cần tạo một môi trường vui chơi học tập phong phú như đồ chơi (chơi con thú thì mẹ kết hợp cho trẻ xem tranh con thú để nắm bắt các điểm tương đồng), học vẽ, đi chơi công viên thường xuyên, đọc truyện tranh…

Thời kỳ thứ 3 (từ 3-6 tuổi): thời kỳ phát triển năng lực tư duy (kỹ thuật)

Trẻ phát triển mạnh về năng lực tư duy, thời kỳ này cha mẹ cần tập trung nuôi dưỡng tư duy để tránh bị đình trệ. Các năng lực này diễn ra ở khu vực não từ tai đến phía trước thuỳ trán. Các kích thích đến từ bên ngoài sẽ được tiếp nhận tại thuỳ chẩm thông qua các giác quan như tai, mắt mũi và sau đó thuỳ trán sẽ chuyển hoá các yếu tố này thành hành vi, biểu đạt chúng thông qua hệ thống cơ. Ở giai đoạn 0-3 tuổi, thuỳ chẩm phát triển nhưng đến giai đoạn này thuỳ trán ai phát triển cho nến cha mẹ đẩy mạnh việc giáo dục về trí nhớ thì không phát triển được trí năng của trẻ.

Đây là giai đoạn cha mẹ nên cho  trẻ chơi lặp đi lặp lại nhiều lần:

  • chơi các trò chơi ghép hình, thả hình khối, xếp khối. (ghép hình từ 4 miếng – 10 – 20 – 40 -60 tăng dần độ khó)
  • cắt giấy, xếp giấy
  • tập đàn piano hoặc violin.

Khi trẻ mới chào đời, chỉ khi nhận được các kích thích từ môi trường xung quanh thì tế bào não của trẻ mới kết nối và vận hành được. Khi đó việc lặp đi lặp lại là rất quan trọng bởi nó tạo ra sự kết nối giữa các tế bào, hình thành các mạch thần kinh giúp cho sự kích thích được thông suốt. Nếu sự kích thích yếu ớt (môi trường giáo dục nghèo nàn) thì tế bào não sẽ phát triển kém, cho đến 6 tuổi thì mạch thần kinh đã hình thành thì không điều chỉnh được nữa. Sau 6 tuổi, dù trẻ học có tốt đi thế nào nữa cũng không tổ chức lại được cấu trúc của nó và không còn chỗ để phát triển các mạch thần kinh giúp truyền các tác động, kích thích một cách tốt đẹp.

Như vậy, để hình thành các mạch thần kinh có chất lượng nhờ giáo dục ở giai đoạn 0 tuổi và đẩy nhanh sự phát triển năng lực thì không thế không chuẩn bị những kích thích, tác động phù hợp.